|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM TỈNH NINH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 34/2024/HNGĐ-ST Ngày: 10/5/2024 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM,
TỈNH NINH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Văn Bình
Bà Phan Thị Thanh Huệ
Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Ánh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Mai Lý Lệ H - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 778/2023/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 11 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29/3/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 26/2024/QÐST-HNGĐ ngày 25/4/2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Trần Thị Như Ý - sinh năm 1999.
- Nơi cư trú: thôn P, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (có mặt).
- - Bị đơn: Ông Đỗ Ngọc T - Sinh năm 1996.
- Nơi cư trú: Khu phố C, phường M, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 24/11/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Trần Thị Như Ý trình bày:
Bà Trần Thị Như Ý và ông Đỗ Ngọc T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được Ủy ban nhân dân phường M, TP . - T, tỉnh Ninh Thuận cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 121 ngày 23/11/2017. Sau khi kết hôn vợ chồng bà chung sống tại khu phố C, phường M, TP . - T, tỉnh Ninh Thuận. Cuộc sống chung của vợ chồng có nhiều mâu thuẫn xích mích. Nguyên nhân bà Ý cho rằng ông T thường xuyên nhậu nhẹt say sỉn và chửi bới xúc phạm bà nhiều lần. Từ tháng 01 năm 2023 đến nay, bà Ý đã cùng con trai Đỗ Phúc T1 về nhà ngoại sinh sống. Hai vợ chồng không chung sống với nhau từ tháng 01 năm 2023 đến nay, mệnh ai nấy sống, không quan tâm, chăm sóc gì đến nhau và cũng không có ý định hàn gắn tình cảm vợ chồng. Nay, bà xác định đã hết tình cảm với ông T nên đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn.
Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng có 02 con chung tên Đỗ Cát T2, sinh ngày 04/02/2018 và Đỗ Phúc T1, sinh ngày 30/4/2022. Hiện tại cháu T1 đang sống với bà Ý và cháu T2 đang sống với ông T. Bà Ý yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung Đỗ Phúc T1, ông T tiếp tục nuôi dưỡng con chung Đỗ Cát T2. Hai bên không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.
Tài sản chung và nợ chung: Bà Ý không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là ông Đỗ Ngọc T quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay Tòa án đã thông báo, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông T nhưng ông T vẫn vắng mặt không có lý do và không có bản trình bày ý kiến.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát: Từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đều tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự giải quyết vắng mặt bị đơn.
Về quan điểm giải quyết nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, trình bày của đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn bà Trần Thị Như Ý khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bị đơn ông Đỗ Ngọc T. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn ở phường M, TP - T nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân TP. Phan Rang - T theo khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Đối với việc vắng mặt của bị đơn: Từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm mở phiên tòa sơ thẩm, Tòa án nhân dân TP. Phan Rang - T đã thông báo, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn là ông Đỗ Ngọc T nhưng ông T đều vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, cùng với tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án để làm cơ sở giải quyết và xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung tranh chấp:
[2.1] Về tình trạng hôn nhân: Xét cuộc hôn nhân giữa bà Trần Thị Như Ý và ông Đỗ Ngọc T kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân phường M, TP . - T, tỉnh Ninh Thuận cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 121 ngày 23/11/2017, nên đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bà Ý cho rằng ông T thường xuyên nhậu nhẹt chửi bới đánh đập, xúc phạm bà, hai người bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã xích mích. Vợ chồng không chung sống từ tháng 01 năm 2023 đến nay, không còn đi lại, quan tâm chăm sóc nhau. Tại phiên tòa, bà Ý giữ yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn.
Xét thấy, theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”. Tuy nhiên, vợ chồng bà Ý, ông T phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã, xích mích,... Từ lúc không còn sống chung (từ tháng 01 năm 2023) đến nay, vợ chồng bà Ý, ông T mạnh ai nấy sống, không quan tâm, chăm sóc gì đến nhau và cũng không có ý định hàn gắn; Tại biên bản xác minh ngày 20/3/2024, tại khu phố C, phường M, trưởng khu phố cho biết “Bà Trần Thị Như Ý và ông Đỗ Ngọc T thường xảy ra mâu thuẫn gia đình. Bà Như Ý và ông T đã không còn chung sống với nhau tại địa phương”.
Ông T biết việc bà Ý khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn nhưng không tham gia tố tụng thể hiện ông T không có thiện chí và không có nguyện vọng hàn gắn tình cảm vợ chồng. Vì vậy, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xét thấy hôn nhân giữa ông T, bà Ý đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Ý.
[2.2] Về con chung: Xét về yêu cầu nuôi con chung của bà Ý, Hội đồng xét xử xét thấy: Từ thời điểm vợ chồng không sống chung (tháng 01 năm 2023) đến nay bà Ý là người trực tiếp nuôi cháu Đỗ Phúc T1, sinh ngày 30/4/2022; ông Đỗ Ngọc T là người trực tiếp nuôi cháu Đỗ Cát T2, sinh ngày 04/02/2018. Các cháu hiện đang khỏe mạnh và phát triển bình thường. Xét thấy yêu cầu của bà Ý về nuôi con chung là phù hợp nên Hội đồng xét xử giao cháu Đỗ Phúc T1 cho bà Ý và giao cháu Đỗ Cát T2 cho ông T tiếp tục nuôi dưỡng.
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do bà Trần Thị Như Ý không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.4] Tài sản chung và nợ chung: Bà Ý không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
[3] Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thành phố P-T tại phiên tòa hôm nay là có căn cứ và đúng pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về án phí: Bà Trần Thị Như Ý phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Trần Thị Như Ý được ly hôn với ông Đỗ Ngọc T.
- Về con chung: Giao cho bà Trần Thị Như Ý tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Đỗ Phúc T1, sinh ngày 30/4/2022 và giao cho ông Đỗ Ngọc T tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Đỗ Cát T2, sinh ngày 04/02/2018. Hai bên không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung do không có yêu cầu.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trong nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Bà Trần Thị Như Ý phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) bà Trần Thị Như Ý đã nộp theo biên lai thu tiền số 0000531 ngày 24/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận. Bà Trần Thị Như Ý đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận Thi hành án, quyền yêu cầu Thi hành án, tự nguyện Thi hành án hoặc bị cưỡng chế Thi hành án theo quy định các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm. Nguyên đơn có mặt quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 10/5/2024), bị đơn vắng mặt, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Nga |
Bản án số 34/2024/HNGĐ-ST ngày 10/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 34/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
