TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHOÁI CHÂU TỈNH HƯNG YÊN | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 34/2024/HS-ST Ngày 10 - 5 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHOÁI CHÂU.
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Cường.
Các Hội thẩm nhân dân: bà Lê Thị Oanh và bà Trần Thị Hải Hà.
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyền - Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu tham gia phiên tòa:
Bà Đặng Thị Huệ - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên xét xử công khai, vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 20/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 3 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử 32/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2024/HSST-QĐ ngày 25/4/2024, đối với các bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Ngọc D, sinh năm 1979.
HKTT: thôn T, xã M, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang.
Nơi ở hiện nay: thôn X, xã H, huyện K, tỉnh Hưng Yên.
Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh, Tôn giáo: Không, Giới tính: Nam.
Trình độ văn hoá: 9/12, Nghề nghiệp: Lao động tự do.
Con ông: Nguyễn Văn C và con bà: Nguyễn Thị M.
Anh, chị, em ruột: có 04 người, bị cáo là thứ hai.
Vợ: Nguyễn Thị H, có 03 con, lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2017.
Tiền án, tiền sự: Chưa có.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/12/2023 đến ngày 25/12/2023 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú, (có mặt).
Họ và tên: Nguyễn Hữu Q, sinh năm 1983.
HKTT: thôn X, xã H, huyện K, tỉnh Hưng Yên.
Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh, Tôn giáo: Không, Giới tính: Nam.
Trình độ văn hoá: 9/12, Nghề nghiệp: Lao động tự do.
Con ông: Nguyễn Hữu B và con bà: Nguyễn Thị T.
Anh, chị, em ruột: có 03 người, bị cáo là con lớn.
Vợ: Lê Thị L, có 02 con, lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2012.
Tiền án, tiền sự: Chưa có.
Nhân thân: Ngày 21/01/2021, bị Ủy ban nhân dân huyện K xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chứa bạc và đánh bạc.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/12/2023 đến ngày 25/12/2023 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
Họ và tên: Lê Văn T1, sinh năm 1960.
HKTT: thôn X, xã H, huyện K, tỉnh Hưng Yên.
Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh, Tôn giáo: Không, Giới tính: Nam.
Trình độ văn hoá: 4/10, Nghề nghiệp: Lao động tự do.
Con ông: Lê Văn S và con bà: Nguyễn Thị K (đều đã chết).
Anh, chị, em ruột: có 02 người, bị cáo là thứ 2.
Vợ: Nguyễn Thị S1, có 03 con, lớn sinh năm 1981, nhỏ sinh năm 1990.
Tiền án, tiền sự: Chưa có.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/12/2023 đến ngày 25/12/2023 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
Họ và tên: Nguyễn Hữu T2, sinh năm 1974.
HKTT: thôn X, xã H, huyện K, tỉnh Hưng Yên.
Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh, Tôn giáo: Không, Giới tính: Nam.
Trình độ văn hoá: 4/12, Nghề nghiệp: Lao động tự do.
Con ông: Nguyễn Hữu T3 và con bà: Nguyễn Thị M1 (đã chết)
A, chị, em ruột: có 04 người, bị cáo là con lớn.
Vợ: Lê Thị K1, có 02 con, lớn sinh năm 1997, nhỏ sinh năm 1999.
Tiền án, tiền sự: Chưa có.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/12/2023 đến ngày 25/12/2023 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
Họ và tên: Nguyễn Viết T4, sinh năm 1985
HKTT: thôn X, xã H, huyện K, tỉnh Hưng Yên.
Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh,Tôn giáo: Không, Giới tính: Nam.
Trình độ văn hoá: 5/12, Nghề nghiệp: Lao động tự do.
Con ông: Nguyễn Viết E (đã chết) và con bà: Nguyễn Thị K2.
Anh, chị, em ruột: có 03 người, bị cáo là thứ hai.
Vợ: Lê Thị L1, có 03 con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2019
Tiền án, tiền sự: Chưa có.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/12/2023 đến ngày 25/12/2023 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
Họ và tên: Nguyễn Hữu T5, sinh năm 1975.
HKTT: thôn X, xã H, huyện K, tỉnh Hưng Yên.
Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh, Tôn giáo: Không, Giới tính: Nam.
Trình độ văn hoá: 7/12, Nghề nghiệp: Lao động tự do.
Con ông: Nguyễn Hữu T6 và con bà: Nguyễn Thị L2.
Anh, chị, em ruột: có 05 người, bị cáo là thứ hai.
Vợ: Nguyễn Thị H1, có 01 con, sinh năm 2000.
Tiền án, tiền sự: Chưa có.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/12/2023 đến ngày 25/12/2023 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
Họ và tên: Lê Xuân L3, sinh năm 1981.
HKTT: thôn X, xã H, huyện K, tỉnh Hưng Yên.
Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh, Tôn giáo: Không, Giới tính: Nam.
Trình độ văn hoá: 5/12, Nghề nghiệp: Lao động tự do.
Con ông: Lê Xuân D và con bà: Nguyễn Thị T7.
Anh, chị, em ruột: có 03 người, bị cáo là thứ hai.
Vợ: Nguyễn Thị T8, có 02 con, lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2005.
Tiền án, tiền sự: Chưa có.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/12/2023 đến ngày 25/12/2023 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
Họ và tên: Nguyễn Đình Đ1, sinh năm 1977
HKTT: thôn H, xã H, huyện K, tỉnh Hưng Yên.
Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh, Tôn giáo: Không, Giới tính: Nam.
Trình độ văn hoá: 6/12, Nghề nghiệp: Lao động tự do.
Con ông: Nguyễn Đình D1 (đã chết) và con bà: Ngô Thị L4.
Anh, chị, em ruột: có 03 người, bị cáo là lớn.
Vợ: Nguyễn Thị B1, có 02 con, lớn sinh năm 1998, nhỏ sinh năm 2004.
Tiền án, tiền sự: Chưa có.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/12/2023 đến ngày 25/12/2023 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 16/12/2023, Nguyễn Hữu Q, sinh năm 1983; Lê Văn T1, sinh năm 1960, Lê Xuân L3, sinh năm 1981, Nguyễn Viết T4, sinh năm 1985, Nguyễn Hữu T5, sinh năm 1975, Nguyễn Hữu T2, sinh năm 1974 đều ở thôn X, xã H và Nguyễn Đình Đ1, sinh năm 1977, ở thôn H, xã H đến nhà Nguyễn Ngọc D, sinh năm 1979, ở thôn X, xã H chơi. Khi mọi người đang uống nước thì Q, T1, L3, T4, T5, T2, Đ1 cùng rủ nhau chơi đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức chơi “Liêng”. D đồng ý nên chuẩn bị 01 bộ bài tú lơ khơ cho 07 người có tên như trên chơi đánh bạc. Những người chơi ngồi xuống chiếc chiếu tre trải sẵn dưới nền nhà D để cùng chơi đánh bạc đến khoảng 21 giờ 10 phút cùng ngày thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K kết hợp với Công an xã H bắt quả tang.
Hình thức chơi Liêng quy định như sau: Từ bộ bài tú lơ khơ 52 quân, gồm các hàng từ: A, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, J, Q, K, mỗi hàng có bốn quân bài gồm các chất: Rô, C1, T9, B2. Khi đánh bạc, người nào thắng ván bài trước sẽ là người chia ván bài tiếp theo; người chia bài chia cho mỗi người tham gia đánh bạc 03 quân bài, số bài thừa sẽ để dưới chiếu gọi là bài lọc. Khi bắt đầu chơi, mỗi ván người chơi phải đặt ra cửa của mình số tiền là 10.000 đồng (Mười nghìn đồng). Sau khi lên bài, ai chia bài sẽ được tố trước, tiếp đến là người ngồi liền kề bên tay phải người chia bài, nếu theo thì được tố tiếp, nếu không theo thì úp bài vào lọc và thua số tiền đã đặt cửa. Cứ như vậy, lần lượt theo vòng bên phải đến người cuối cùng. Người chơi chỉ được tố cao nhất đến 50.000 đồng. Nếu có người theo đến cùng thì những người theo sẽ ngửa bài ra so. Quy định: Sáp là to nhất, sau đó đến L5, tiếp đến là “Ảnh” và cuối cùng là tính điểm. Sáp tức là có 3 quân bài cùng hàng với nhau. Sáp 3 quân A là to nhất, đến Sáp 3 quân K và nhỏ nhất là Sáp 3 quân 2. Nếu ván bài không ai có S2 thì xét đến Liêng. Liêng tức là 3 quân bài liền kề nhau (không cần đồng chất, đồng màu) như: A, 2, 3; 4, 5, 6; 7, 8, 9, trong đó liêng cao nhất là Q, K, A, Liêng nhỏ nhất là A, 2, 3. Khi ván bài có từ hai người chơi trở lên có cùng L5 thì lúc đó so về chất; chất to lần lượt là: Rô, C1, T9, B2. Trong ván bài không người nào có S2 và không ai có Liêng thì sẽ tính xem người nào có “Ảnh”. “Ảnh” tức là có 3 quân bài ở các hàng J, Q và K, ván bài nếu có hai người đều có “Ảnh” như nhau thì lại so chất. Ván bài không ai có S2, L5 và Ảnh thì sẽ tính đến điểm độ so với nhau: A là 1 điểm; những quân bài ở các hàng 10, J, Q và K đều tính không điểm; những quân bài còn lại tính điểm theo số tự nhiên. Lúc đó ai được chín điểm là to nhất, không điểm là nhỏ nhất (tức là tổng 3 quân bài là 10 hoặc 20). Nếu có từ hai người chơi trở lên có điểm bằng nhau thì lại so chất.
Khi chơi mọi người thống nhất nếu ai thắng ván bài bằng "Sáp" và "Liêng Q, K, A" thì sẽ bỏ ra cạnh chiếu số tiền lần lượt là 50.000 đồng và 30.000 đồng cho Nguyễn Ngọc D, D biết việc thống nhất trên và đồng ý, tuy nhiên quá trình các bị cáo chơi đánh bạc thì D chưa thu được tiền hồ.
Vật chứng và tài sản Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện K thu giữ gồm:
Tiền tại chiếu bạc tổng số tiền là 5.300.000 đồng; 01 bộ bài tú lơ khơ, 01 chiếu chiếu tre.
Quản lý tại túi quần của Đ1 số tiền 7.000.000 đồng; tại túi áo của Q uẩn số tiền là 2.500.000 đồng.
Thu giữ của Đ1 01 chiếc điện thoại di động Oppo; của Q 01 chiếc điện thoại Oppo; của T1 01 chiếc điện thoại Samsung; của T5 01 chiếc điện thoại Nokia; của T2 01 điện thoại Iphone 6; của T4 01 điện thoại Iphone XS max; của L3 01 điện thoại Nokia và 01 điện thoại Samsung.
Xử lý vật chứng: Đối với tổng số tiền 14.800.000 đồng gồm thu giữ tại chiếu bạc và trong người các bị cáo Nguyễn Đình Đ1, Nguyễn Hữu Q được xác định sử dụng vào mục đích đánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã nộp vào tài khoản tạm gửi chờ xử lý của Công an huyện K.
Đối với 08 chiếc điện thoại di động thu giữ của các bị cáo T1, Q, Đ1, T5, T2, T4, L3, quá trình điều tra xác định không liên quan đến hành vi đánh bạc. Do vậy ngày 25/12/2023 Cơ quan điều tra đã trao trả 08 chiếc điện thoại nêu trên cho các chủ sở hữu.
Đối với 01 bộ tú lơ khơ và 01 chiếc chiếu tre, Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng của Công an huyện K, chờ xử lý.
Quá trình điều tra các bị cáo khai nhận: Trước khi tham gia đánh bạc các bị cáo Q, Đ1 mang theo số tiền lần lượt là 3.300.000 đồng và 8.000.000 đồng. Q bỏ ra trước số tiền khoảng 800.000 đồng, Đ1 bỏ ra trước số tiền 1.000.000 đồng để chơi đánh bạc. Số tiền còn lại Q, Đ1 để trong túi áo, túi quần, nếu thua hết thì Q, Đ1 sẽ tiếp tục sử dụng để đánh bạc.
Tại Cáo trạng số 15/CT-VKS-P1 ngày 12/01/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu truy tố các bị cáo: Nguyễn Ngọc D, Nguyễn Hữu Q, Lê Văn T1, Nguyễn Hữu T2, Nguyễn Viết T4, Nguyễn Hữu T5, Lê Xuân L3, Nguyễn Đình Đ1 về tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu trình tội, giữ nguyên quyết định truy tố; đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên bố các bị cáo:
Nguyễn Ngọc D, Nguyễn Hữu Q, Nguyễn Hữu T2, Nguyễn Viết T4, Lê Văn T1, Nguyễn Hữu T5, Lê Xuân L3, Nguyễn Đình Đ1 phạm tội “Đánh bạc”.
Về hình phạt:
Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 36 BLHS năm 2015 đối với bị cáo Nguyễn Hữu Q.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu Q từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng cải tạo không giam giữ.
Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 36 BLHS năm 2015 đối với các bị cáo Nguyễn Ngọc D, Nguyễn Đình Đ1.
Xử phạt các bị cáo Nguyễn Ngọc D, Nguyễn Đình Đ1 từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm cải tạo không giam giữ.
Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 36 BLHS năm 2015 đối với các bị cáo Nguyễn Hữu T2, Nguyễn Viết T4, Nguyễn Hữu T5, Lê Xuân L3.
Xử phạt các bị cáo Nguyễn Viết T4, Nguyễn Hữu T5, Lê Xuân L3, Nguyễn Hữu T2 từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng cải tạo không giam giữ.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 36 BLHS năm 2015 đối với bị cáo Lê Văn T1.
Xử phạt bị cáo Lê Văn T1 từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng cải tạo không giam giữ.
Các bị cáo hầu hết làm các công việc lao động tự do và có thu nhập không ổn định nên không khấu trừ thu nhập hàng tháng đối với các bị cáo nhưng do các bị cáo phạm tội đều với mục đích vụ lợi nên cần thiết phạt bổ sung đối với các bị cáo để sung công quỹ Nhà nước. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo T1 do bị cáo là người cao tuổi.
Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 46, điểm a, b khoản 1 Điều 47 BLHS, khoản 2 Điều 106 BLTTHS.
Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 14.800.000 đồng.
Tịch thu cho tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân bài, 01 chiếu tre đã cũ.
Các bị cáo Nguyễn Ngọc D, Nguyễn Hữu Q, Lê Văn T1, Nguyễn Hữu T2, Nguyễn Viết T4, Nguyễn Hữu T5, Lê Xuân L3, Nguyễn Đình Đ1 đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã truy tố, luận tội của kiểm sát viên và đã rất ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, cho các bị cáo được tại ngoại tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng:
Cơ quan Điều tra Công an huyện K và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng từ giai đoạn điều tra cho đến phiên tòa sơ thẩm đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo:
Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với nhau và phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản phạm tội quả tang cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng thời gian từ 19 giờ 30 phút đến 21 giờ 10 phút ngày 16/12/2023, Nguyễn Ngọc D đã sử dụng nhà thuộc quyền sở hữu của mình ở thôn X, xã H, huyện K và chuẩn bị công cụ phương tiện (01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân bài) để cho Nguyễn Hữu Q, Lê Văn T1, Nguyễn Hữu T2, Nguyễn Viết T4, Nguyễn Hữu T5, Lê Xuân L3, Nguyễn Đình Đ1 đánh bạc trái phép, được thua bằng tiền dưới hình thức chơi “ Liêng”. Tổng số tiền đánh bạc và sử dụng để đánh bạc được xác định là 14.800.000 đồng. Do đó hành vi của các bị cáo Nguyễn Hữu Q, Lê Văn T1, Nguyễn Hữu T2, Nguyễn Viết T4, Nguyễn Hữu T5, Lê Xuân L3, Nguyễn Đình Đ1 và Nguyễn Ngọc D thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Như vậy bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Tội phạm và hình phạt theo khoản 1 Điều 321 BLHS, được quy định:
“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
[3] Về tính chất hành vi phạm tội, vai trò và mức hình phạt:
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự công cộng, gây bất bình trong dư luận quần chúng Nhân dân tại địa phương, gây thiệt hại về kinh tế, ảnh hưởng đến cuộc sống, hạnh phúc của bản thân gia đình các bị cáo. Mặt khác tệ nạn cờ bạc còn là nguyên nhân làm phát sinh nhiều hành vi vi phạm và tội phạm khác. Các bị cáo là người trưởng thành, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì lười lao động và hám lợi nên vẫn cố ý thực hiện. Do đó cần áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của từng bị cáo; nhằm cải tạo, giáo dục riêng các bị cáo và phòng ngừa chung là hết sức cần thiết.
Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, trong đó bị cáo Đ1, Q tham gia đánh bạc với số tiền đánh bạc và sử dụng vào việc đánh bạc nhiều nhất, bị cáo Q có nhân thân xấu đã bị Ủy ban nhân dân huyện K xử phạt hành chính về hành vi chứa bạc và đánh bạc năm 2021 nhưng không lấy đó làm bài học mà vẫn cố ý phạm tội nên cần áp dụng mức hình phạt cao nhất. Đối với bị cáo D là chủ nhà, đồng phạm giúp sức, chuẩn bị công cụ phương tiện cho các bị cáo khác phạm tội nên các bị cáo Đ1, D cần áp dụng mức hình phạt thỏa đáng, áp dụng mức thấp hơn bị cáo Q nhưng cao hơn đối với các bị cáo còn lại là T1, L3, T2, T4 và T5.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo Nguyễn Ngọc D, Nguyễn Hữu Q, Lê Văn T1, Nguyễn Hữu T2, Nguyễn Viết T4, Nguyễn Hữu T5, Lê Xuân L3, Nguyễn Đình Đ1 đều khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Nguyễn Hữu Q có bố, mẹ đẻ được tặng thưởng Huy chương chiến sỹ vẻ vang; bị cáo Lê Văn T1 là người cao tuổi, có đơn trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn, sống phụ thuộc con cháu được chính quyền địa phương xác nhận nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 52 BLHS. Do vậy, HĐXX xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với từng bị cáo.
Các bị cáo đều có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo nên không cần thiết cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội. Do đó áp dụng mức hình phạt cải tạo không giam giữ theo quy định tại Điều 36 BLHS đối với các bị cáo cũng đủ giáo dục và phòng ngừa tội phạm.
Các bị cáo làm các công việc tự do và có thu nhập không ổn định nên không khấu trừ thu nhập hàng tháng đối với các bị cáo nhưng do các bị cáo phạm tội đều với mục đích vụ lợi nên cần thiết phạt bổ sung đối với các bị cáo để sung công quỹ Nhà nước. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo T1 do bị cáo là người cao tuổi.
[5] Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng.
[5.1] Biện pháp tư pháp.
Tịch thu, sung công quỹ nhà nước số tiền đánh bạc và sử dụng vào việc đánh bạc 14.800.000 đồng.
[5.2] Xử lý vật chứng.
Tịch thu cho tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân bài, 01 chiếu tre đã cũ.
[6] Về án phí:
Các bị cáo Nguyễn Ngọc D, Nguyễn Hữu Q, Nguyễn Hữu T2, Nguyễn Viết T4, Nguyễn Hữu T5, Lê Xuân L3, Nguyễn Đình Đ1 phải chịu án phí theo Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 3; Điều 21; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Lê Văn T1 là người cao tuổi và có đơn đề nghị miễn án phí nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
* Về tội danh:
Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Ngọc D, Nguyễn Hữu Q, Lê Văn T1, Nguyễn Hữu T2, Nguyễn Viết T4, Nguyễn Hữu T5, Lê Xuân L3, Nguyễn Đình Đ1 phạm tội Đánh bạc.
* Về hình phạt:
Căn cứ khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 36 BLHS năm 2015 đối với bị cáo Nguyễn Hữu Q.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu Q 02 (hai) năm cải tạo không giam giữ, được trừ đi thời gian đã tạm giữ quy đổi sang cải tạo không giam giữ 27 (hai mươi bẩy) ngày, buộc bị cáo chấp hành hình phạt là 01 (một) năm 11 (mười một) tháng 03 (ba) ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện K nhận được quyết định thi hành án.
Căn cứ khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 36 BLHS năm 2015 đối với các bị cáo Nguyễn Đình Đ1, Nguyễn Ngọc D, Nguyễn Hữu T2, Nguyễn Viết T4, Nguyễn Hữu T5, Lê Xuân L3.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình Đ1 01 (một) năm 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ đi thời gian đã tạm giữ quy đổi sang cải tạo không giam giữ 27 (hai mươi bẩy) ngày, buộc bị cáo chấp hành hình phạt là 01 (một) năm 08 (tám) tháng 03 (ba) ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện K nhận được quyết định thi hành án.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc D 01 (một) năm 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ đi thời gian đã tạm giữ quy đổi sang cải tạo không giam giữ 27 (hai mươi bẩy) ngày, buộc bị cáo chấp hành hình phạt là 01 (một) năm 08 (tám) tháng 03 (ba) ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Y, tỉnh Tuyên Quang nhận được quyết định thi hành án.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T2 01 (một) năm 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ đi thời gian đã tạm giữ quy đổi sang cải tạo không giam giữ 27 (hai mươi bẩy) ngày, buộc bị cáo chấp hành hình phạt là 01 (một) năm 05 (năm) tháng 03 (ba) ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện K nhận được quyết định thi hành án.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Viết T4 01 (một) năm 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ đi thời gian đã tạm giữ quy đổi sang cải tạo không giam giữ 27 (hai mươi bẩy) ngày, buộc bị cáo chấp hành hình phạt là 01 (một) năm 05 (năm) tháng 03 (ba) ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện K nhận được quyết định thi hành án.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T5 01 (một) năm 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ đi thời gian đã tạm giữ quy đổi sang cải tạo không giam giữ 27 (hai mươi bẩy) ngày, buộc bị cáo chấp hành hình phạt là 01 (một) năm 05 (năm) tháng 03 (ba) ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện K nhận được quyết định thi hành án.
Xử phạt bị cáo Lê Xuân L3 01 (một) năm 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ đi thời gian đã tạm giữ quy đổi sang cải tạo không giam giữ 27 (hai mươi bẩy) ngày, buộc bị cáo chấp hành hình phạt là 01 (một) năm 05 (năm) tháng 03 (ba) ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện K nhận được quyết định thi hành án.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 36 BLHS năm 2015 đối với bị cáo Lê Văn T1.
Xử phạt bị cáo Lê Văn T1 01 (một) năm 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ đi thời gian đã tạm giữ quy đổi sang cải tạo không giam giữ 27 (hai mươi bẩy) ngày, buộc bị cáo chấp hành hình phạt là 01 (một) năm 05 (năm) tháng 03 (ba) ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện K nhận được quyết định thi hành án.
Giao các bị cáo Nguyễn Hữu Q, Nguyễn Đình Đ1, Nguyễn Hữu T2, Nguyễn Viết T4, Nguyễn Hữu T5, Lê Xuân L3 và Lê Văn T1 cho UBND xã H, huyện K, tỉnh Hưng Yên giám sát, giáo dục trong thời gian thi hành án.
Giao bị cáo Nguyễn Ngọc D cho UBND xã M, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang giám sát, giáo dục trong thời gian thi hành án.
+ Không khấu trừ thu nhập hàng tháng đối với các bị cáo Nguyễn Ngọc D, Nguyễn Hữu Q, Lê Văn T1, Nguyễn Hữu T2, Nguyễn Viết T4, Nguyễn Hữu T5, Lê Xuân L3, Nguyễn Đình Đ1.
+ Phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Hữu Q 15.000.000 đồng.
+ Phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Đình Đ1 13.000.000 triệu đồng.
+ Phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Ngọc D 13.000.000 triệu đồng.
+ Phạt bổ sung đối với các bị cáo Nguyễn Hữu T2, Nguyễn Viết T4, Nguyễn Hữu T5, Lê Xuân L3 mỗi bị cáo 10.000.000 triệu đồng.
* Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu, sung công quỹ nhà nước số tiền đánh bạc và sử dụng vào việc đánh bạc 14.800.000 đồng.
Tịch thu cho tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân bài, 01 chiếu tre đã cũ.
(Số lượng, chủng loại, đặc điểm, tình trạng vật chứng theo quyết định chuyển vật chứng số: 20/QĐ-VKS-KC ngày 12 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu).
* Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 3; Điều 21; Điều 23; điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Các bị cáo Nguyễn Ngọc D, Nguyễn Hữu Q, Nguyễn Hữu T2, Nguyễn Viết T4, Nguyễn Hữu T5, Lê Xuân L3, Nguyễn Đình Đ1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Lê Văn T1.
* Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 311, 332 và 333 của BLTTHS.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt các bị cáo; báo cho các bị cáo biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Việt Cường |
Bản án số 34/2024/HS-ST ngày 10/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHOÁI CHÂU, TỈNH HƯNG YÊN về hình sự sơ thẩm (đánh bạc)
- Số bản án: 34/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHOÁI CHÂU, TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc
