|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM TỈNH NINH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 34/2024/DS-ST. Ngày: 09 - 7 - 2024. V/v: “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”. |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM,
TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Hồng.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Hoàng Liên.
2. Ông Trần Văn Bình.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Hoàng Vân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Y - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 41/2024/TLST-DS ngày 06 tháng 03 năm 2024 về tranh chấp: “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2024/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 34/2024/QĐST-DS ngày 21 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
1/ Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ.
Địa chỉ trụ sở: Tháp B, số A T, phường L quận H, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Đức T - Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Đức T1 - Chức vụ: Phó Giám đốc Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ - Chi nhánh N (Theo Quyết định ủy quyền tham gia tố tụng số 08/QĐ-BIDV.NT ngày 02/01/2024).
Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Văn C - Chức vụ: Chuyên viên phụ trách xử lý nợ - Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ - Chi nhánh N (Theo Quyết định ủy quyền tham gia tố tụng số 355/QĐ-BIDV.NT ngày 08/8/2023) (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
2/ Bị đơn: Ông Từ Anh K - sinh năm 1990 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Khu phố D, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
3/ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Từ Văn L - sinh năm 1951 (Có mặt).
- Bà Nguyễn Thị T2 - sinh năm 1957 (Vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Khu phố D, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
4/ Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (bà Nguyễn Thị T2): Ông Từ Văn L - sinh năm 1951 (Có mặt).
Địa chỉ: Khu phố D, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện của nguyên đơn, trong quá trình giải quyết vụ án; người đại diện theo ủy quyền lại của nguyên đơn là ông Nguyễn Văn C trình bày:
Giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ (Viết tắt là Ngân hàng) và ông Từ Anh K, ông Từ Văn L, bà Nguyễn Thị T2 có ký kết các Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng cấp hạn mức thấu chi và Hợp đồng thế chấp tài sản; cụ thể như sau:
- Hợp đồng tín dụng số 01/2021/5139392/HĐTD ngày 03/11/2021; Số tiền vay: 1.600.000.000 đồng; Thời hạn vay: 96 tháng; Mục đích vay: Phục vụ nhu cầu đời sống của cá nhân và gia đình; Kỳ hạn trả nợ: Hàng tháng; Số tiền trả nợ gốc/tháng: 16.700.000 đồng; Lãi suất vay ban đầu ưu đãi: 9%/năm; Lãi suất nợ quá hạn là 150%/ lãi suất cho vay trong hạn; Lãi chậm trả áp dụng đối với nợ lãi chậm trả là 1%/năm.
Để đảm bảo cho khoản vay của Hợp đồng này thì cha mẹ của ông K là ông Từ Văn L và bà Nguyễn Thị T2 đã ký kết Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 01/2021/5139392/HĐBĐ ngày 02/11/2021; Hợp đồng thế chấp tài sản gắn liền với đất số 02/2021/5139392/HĐBĐ ngày 02/11/2021 để thế chấp thửa đất số 151, tờ bản đồ số 86 và tài sản trên đất là ngôi nhà cấp 4, diện tích xây dựng 100m²; có địa chỉ tại khu phố D, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
Đối với Hợp đồng tín dụng này thì ông Từ Anh K đã tất toán với Ngân hàng.
- Hợp đồng tín dụng số 01/2022/5139392/HĐTD ngày 13/6/2022, cụ thể như sau: Số tiền vay: 480.000.000 đồng; Thời hạn vay: 84 tháng; Mục đích vay: Mua xe ô tô; Kỳ hạn trả nợ: Hàng tháng; Số tiền trả nợ gốc/tháng: 5.700.000 đồng; Lãi suất vay ban đầu: 7,5%/năm; Lãi suất vay hiện nay: 12,2%/năm; Số tiền gốc đã trả: 69.560.000 đồng; Số tiền lãi đã trả: 51.251.324 đồng.
+ Tính đến hết ngày 09/7/2024, dư nợ của ông Từ A Khôi theo Hợp đồng tín dụng nêu trên là: Nợ gốc: 410.440.000 đồng; Nợ lãi: 38.213.869 đồng; Lãi phạt quá hạn gốc: 965.984 đồng; Lãi chậm trả lãi: 128.134 đồng. Tổng cộng: 449.747.987 đồng.
- Hợp đồng cấp hạn mức thấu chi số 01/2023/5139392/HĐTD ngày 11/01/2023 và Văn bản sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng số 03/2023/5139392/HĐTD ngày 03/11/2023, cụ thể: Số tiền vay: 1.000.000.000 đồng; Thời hạn vay: 12 tháng; Mục đích vay: Phục vụ nhu cầu tiêu dùng; Kỳ hạn trả nợ lãi: Hàng tháng; Kỳ hạn trả nợ gốc: 12 tháng; Lãi suất vay hiện nay: 8,0%/năm. Số tiền gốc đã trả: 0 đồng; Số tiền lãi đã trả: 42.541.860 đồng.
+ Tính đến hết ngày 09/7/2024, dư nợ của ông Từ A Khôi theo Hợp đồng cấp hạn mức thấu chi và Văn bản sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng nêu trên là: Nợ gốc: 999.593.299 đồng; Nợ lãi: 56.623.072 đồng; Lãi phạt quá hạn: 19.830.130 đồng; Lãi chậm trả lãi: 274.089 đồng. Tổng cộng là 1.076.320.590 đồng.
- Hợp đồng cấp hạn mức thấu chi số 01/2023/5139392/HĐTD ngày 28/4/2023, cụ thể như sau: Số tiền vay: 1.400.000.000 đồng; Thời hạn vay: 12 tháng; Mục đích vay: Phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh; Kỳ hạn trả nợ: Hàng tháng; Kỳ hạn trả nợ gốc: 12 tháng; Lãi suất vay hiện nay: 8,0%/năm. Số tiền gốc đã trả: 0 đồng; Số tiền lãi đã trả: 70.597.260 đồng.
+ Tính đến hết ngày 09/7/2024, dư nợ của ông Từ A Khôi theo Hợp đồng tín dụng nêu trên là: Nợ gốc: 1.400.000.000 đồng; Nợ lãi: 75.156.165 đồng; Lãi phạt quá hạn: 11.200.025 đồng; Lãi chậm trả lãi: 236.869 đồng. Tổng cộng là 1.486.593.059 đồng.
Như vậy, tính đến hết ngày 09/7/2024, tổng dư nợ của ông Từ Anh K theo các Hợp đồng tín dụng đã được ký kết là: Nợ gốc: 2.810.033.299 đồng; Nợ lãi: 169.993.106 đồng; Lãi phạt quá hạn: 31.996.139 đồng; Lãi chậm trả lãi: 639.092 đồng. Tổng cộng: 3.012.661.636 đồng.
Để đảm bảo cho các khoản vay nêu trên thì giữa Ngân hàng và ông Từ Anh K, ông Từ Văn L, bà Nguyễn Thị T2 đã ký kết các Hợp đồng thế chấp như sau:
Giữa Ngân hàng và ông Từ Văn L, bà Nguyễn Thị T2 ký kết Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 01/2021/5139392/HĐBĐ ngày 02/11/2021; Hợp đồng thế chấp tài sản gắn liền với đất số 02/2021/5139392/HĐBĐ ngày 02/11/2021; tài sản thế chấp là thửa đất số 151, tờ bản đồ số 86 và tài sản trên đất là ngôi nhà cấp 4, diện tích xây dựng 100m²; có địa chỉ tại khu phố D, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
Giữa Ngân hàng và ông Từ Anh K ký kết Hợp đồng thế chấp tài sản số 01/2022/5139392/HĐBĐ ngày 10/6/2022; tài sản thế chấp là chiếc xe ô tô con 5 chỗ hiệu Mazda 3 ALL NEW LUXURY đời 2022 biển kiểm soát 85A-087.52; số khung: RN2B14AA6NM088302; số máy: P520809216.
Đến nay, toàn bộ nợ vay theo các Hợp đồng tín dụng nêu trên đã quá hạn. Do ông Từ Anh K vi phạm các Hợp đồng tín dụng đã ký với Ngân hàng nên ông Nguyễn Văn C đề nghị Tòa án giải quyết:
Buộc ông Từ Anh K phải trả cho Ngân hàng số tiền tính đến ngày 09/7/2024 là 3.012.661.636 đồng. Trong đó: Số tiền gốc là 2.810.033.299 đồng; Số tiền lãi là 169.993.106 đồng; Số tiền lãi phạt quá hạn là 31.996.139 đồng; Số tiền lãi chậm trả lãi là 639.092 đồng.
Buộc ông Từ Anh K phải tiếp tục trả lãi vay phát sinh từ khoản nợ gốc tính từ ngày 10/7/2024 theo mức lãi suất đã thỏa thuận theo các Hợp đồng tín dụng đã được ký kết cho đến khi trả hết nợ vay.
Buộc ông Từ Văn L và bà Nguyễn Thị T2 phải tiếp tục duy trì Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 01/2021/5139392/HĐBĐ ngày 02/11/2021; Hợp đồng thế chấp tài sản gắn liền với đất số 02/2021/5139392/HĐBĐ ngày 02/11/2021 và ông Từ Anh K phải tiếp tục duy trì Hợp đồng thế chấp tài sản số 01/2022/5139392/HĐBĐ ngày 10/6/2022 đã được ký kết với Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ - Chi nhánh N để đảm bảo toàn bộ nợ vay của ông Từ Anh K cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ.
Trường hợp ông Từ Anh K không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ nêu trên, thì tài sản bảo đảm Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ - Chi nhánh N được quyền thu giữ, phát mãi theo quy định của pháp luật hoặc yêu cầu cơ quan thi hành án kê biên phát mãi để thu hồi nợ vay.
Về chi phí tố tụng và án phí: Ông Nguyễn Văn C đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Bị đơn là ông Từ Anh K: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án; Tòa án đã thông báo, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Từ A Khôi nhưng ông K không đến Tòa án làm việc và cũng không có ý kiến phản hồi gì liên quan đến tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp; vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Từ Văn L trình bày:
Ngày 02/11/2021 vợ chồng ông (Ông và bà Nguyễn Thị T2) đã ký kết Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 01/2021/5139392/HĐBĐ và Hợp đồng thế chấp tài sản gắn liền với đất số 02/2021/5139392/HĐBĐ; thế chấp thửa đất số 151, tờ bản đồ số 86 và tài sản trên đất là ngôi nhà cấp 4, diện tích xây dựng 100m²; có địa chỉ tại khu phố D, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận để đảm bảo cho khoản nợ vay 2.400.000.000 đồng của con là Từ Anh K với Ngân hàng.
Nay Ngân hàng khởi kiện Từ Anh K, yêu cầu Tòa án giải quyết buộc K phải trả số tiền gốc, lãi và duy trì các Hợp đồng thế chấp thì ông có mong muốn Ngân hàng khoanh nợ lại cho K. Ông đồng ý tiếp tục duy trì Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 01/2021/5139392/HĐBĐ và Hợp đồng thế chấp tài sản gắn liền với đất số 02/2021/5139392/HĐBĐ cùng ngày 02/11/2021.
Về án phí và chi phí tố tụng: Ông đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, cụ thể như sau:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án: Nguyên đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng. Bị đơn chưa thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Người
đại diện theo ủy quyền lại của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn mặc dù đã được thông báo, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án là đúng theo quy định của khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự (Viết tắt là BLTTDS).
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147 BLTTDS.
Căn cứ điều 463, 466, 468, 470 BLDS; Điều 91, Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng; Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019.
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ.
Buộc ông Từ Anh K phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền tính đến ngày 09/7/2024 là 3.012.661.636 đồng. Trong đó: Tiền gốc 2.810.033.299 đồng; Tiền lãi 169.993.106 đồng; T3 lãi phạt quá hạn 31.996.139 đồng; Tiền lãi chậm trả lãi 639.092 đồng và khoản lãi phát sinh của khoản nợ đã được các bên thoả thuận trong các hợp đồng tín dụng kể từ ngày 10/7/2024 cho đến khi trả hết nợ vay. Đồng thời để bảo đảm cho việc thi hành án đối với khoản nợ vay và lãi; chấp nhận đề nghị của ngân hàng buộc vợ chồng ông L, bà T2 phải duy trì Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 01/2021/5139392/HĐBĐ ngày 02/11/2021; Hợp đồng thế chấp tài sản gắn liền với đất số 02/2021/5139392/HĐBĐ ngày 02/11/2021 và buộc ông Từ A Khôi phải duy trì Hợp đồng thế chấp tài sản số 01/2022/5139392/HĐBĐ ngày 10/6/2022 đã ký kết với Ngân hàng.
Ngoài ra, đương sự chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
[1.1]. Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Từ A Khôi có nơi cư trú tại khu phố D, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận phải trả tiền nợ gốc, nợ lãi phát sinh từ các Hợp đồng tín dụng đã ký kết. Căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS; xác định quan hệ
tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”; vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận.
[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự: Tại “Đơn xin vắng mặt tại phiên tòa” ngày 08/7/2024; người đại diện theo ủy quyền lại của nguyên đơn là ông Nguyễn Văn C xin xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên các yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, những ý kiến đã trình bày. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Tòa án đã thực hiện thủ tục tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn là ông Từ A Khôi nhưng ông K không đến tham gia tố tụng mặc dù đã được tống đạt, triệu tập hợp lệ. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị T2 vắng mặt nhưng đã ủy quyền cho ông Từ Văn L tham gia tố tụng. Căn cứ khoản 2 Điều 227; Điều 228 của BLTTDS, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.
[2]. Về nội dung vụ án:
[2.1]. Đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc ông Từ A Khôi trả số tiền gốc và lãi; Hội đồng xét xử nhận thấy:
[2.1.1]. Hợp đồng tín dụng số 01/2022/5139392/HĐTD ngày 13/6/2022; Hợp đồng cấp hạn mức thấu chi số 01/2023/5139392/HĐTD ngày 28/4/2023; Hợp đồng cấp hạn mức thấu chi số 01/2023/5139392/HĐTD ngày 11/01/2023 và Văn bản sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng số 03/2023/5139392/HĐTD ngày 03/11/2023 được ký kết giữa Ngân hàng và ông Từ A Khôi trên cơ sở tự nguyện, không trái pháp luật, đạo đức xã hội, tuân thủ các quy định của pháp luật về nội dung và hình thức nên được thừa nhận, bảo vệ. Sau khi ký Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng cấp hạn mức thấu chi (Viết tắt là Hợp đồng); ông K đã nhận đủ số tiền vay là 2.880.000.000 đồng. Theo thỏa thuận của các bên, ông K có nghĩa vụ trả tiền lãi và tiền gốc hàng tháng theo từng Hợp đồng đã ký kết. Từ khi vay đến ngày 15/11/2023, ông K trả cho Ngân hàng được số tiền gốc là 69.560.000 đồng, số tiền lãi là 164.390.444 đồng; sau đó không trả bất cứ khoản tiền nào nữa nên Ngân hàng đã chuyển toàn bộ số dư nợ của ông K thành nợ quá hạn. Như vậy, có cơ sở khẳng định ông K không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận, vi phạm các Hợp đồng đã ký kết; ông K là người có lỗi nên phải chịu mọi hậu quả phát sinh từ các Hợp đồng và theo quy định của pháp luật.
[2.1.2]. Các bên thỏa thuận tại thời điểm xác lập Hợp đồng tín dụng và bản Điều khoản và điều kiện vay; Hợp đồng cấp hạn mức thấu chi và bản Điều kiện, điều khoản cấp và sử dụng hạn mức thấu chi về lãi suất trong hạn và lãi suất quá hạn là phù hợp với quy định tại Điều 418 và Điều 468 của BLDS nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.1.3]. Ngân hàng không yêu cầu giải quyết về phí liên quan đến Hợp đồng cấp hạn mức thấu chi và bản Điều kiện, điều khoản cấp và sử dụng hạn mức thấu chi nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[2.1.4]. Như vậy, Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Từ Anh K phải trả số tiền còn nợ tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 09/7/2024) tổng cộng 3.012.661.636 đồng là phù hợp với Hợp đồng tín dụng và bản Điều khoản và điều kiện vay; Hợp đồng cấp hạn mức thấu chi và bản Điều kiện, điều khoản cấp và sử dụng hạn mức thấu chi; Văn bản sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng đã ký kết; đồng thời phù hợp với quy định tại các Điều 463, 466, 468 và Điều 470 của BLDS nên có cơ sở chấp nhận.
[2.2]. Ngân hàng yêu cầu:
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ông Từ A K còn phải tiếp tục chịu lãi suất của số tiền nợ gốc phát sinh từ ngày 10/7/2024 theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong các Hợp đồng cho đến khi thanh toán xong các Hợp đồng. Xét thấy yêu cầu này của Ngân hàng phù hợp với các nội dung mà các bên đã thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng và bản Điều khoản và điều kiện vay; Hợp đồng cấp hạn mức thấu chi và bản Điều kiện, điều khoản cấp và sử dụng hạn mức thấu chi; Văn bản sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng; phù hợp với quy định tại Điều 91, Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng nên chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng.
[2.3]. Xét yêu cầu tiếp tục duy trì Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 01/2021/5139392/HĐBĐ ngày 02/11/2021; Hợp đồng thế chấp tài sản gắn liền với đất số 02/2021/5139392/HĐBĐ ngày 02/11/2021 và Hợp đồng thế chấp tài sản số 01/2022/5139392/HĐBĐ ngày 10/6/2022 của Ngân hàng; thấy rằng:
[2.3.1]. Khi ông Từ Anh K vay tiền của Ngân hàng (Vay lần đầu vào ngày 03/11/2021) cha mẹ của ông K là ông Từ Văn L, bà Nguyễn Thị T2 có ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 01/2021/5139392/HĐBĐ ngày 02/11/2021; Hợp đồng thế chấp tài sản gắn liền với đất số 02/2021/5139392/HĐBĐ ngày 02/11/2021 với Ngân hàng để thế chấp thửa đất số 151, tờ bản đồ số 86, diện tích là 465m² và tài sản trên đất là ngôi nhà cấp 4, diện tích xây dựng 100m²; có địa chỉ tại khu phố D, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CO 650537, số vào sổ cấp GCN: CS 03891 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh N cấp ngày 20/9/2018 cho ông Từ Văn L và khi các bên thống nhất thỏa thuận ký kết các Hợp đồng tín dụng sau này thì vẫn thống nhất thế chấp thửa đất trên để đảm bảo cho khoản tiền đã vay. Ngoài ra, giữa ông Từ Anh K và Ngân hàng còn ký Hợp đồng thế chấp tài sản số 01/2022/5139392/HĐBĐ ngày 10/6/2022; thế chấp chiếc xe ô tô con 5 chỗ hiệu Mazda 3 ALL NEW LUXURY đời 2022 biển kiểm soát 85A-087.52; số khung: RN2B14AA6NM088302; số máy: P520809216 để đảm bảo cho các khoản vay nêu trên.
[2.3.2]. Việc các bên ký kết Hợp đồng thế chấp nêu trên là đúng theo quy định tại các Điều 500, 501, 502 của BLDS; điều 10, 22, 49, 52 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ quy định thi hành BLDS về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Và việc ông L, bà T2 đăng ký giao dịch bảo đảm đối với thửa đất trên tại Văn phòng Đ1 - Chi nhánh P - T là phù hợp với các quy định tại Nghị định số 102/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 về đăng ký biện pháp bảo đảm tại thời điểm đăng ký; phù hợp với các quy định tại Nghị định số 99/2022/NĐ-CP ngày 30/11/2022 về đăng ký biện pháp bảo đảm tại thời điểm hiện nay.
[2.3.3]. Do ông K vi phạm nghĩa vụ về trả nợ vay nên Ngân hàng yêu cầu tiếp tục duy trì các Hợp đồng thế chấp bao gồm: Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 01/2021/5139392/HĐBĐ và Hợp đồng thế chấp tài sản gắn liền với đất số 02/2021/5139392/HĐBĐ cùng ngày 02/11/2021; Hợp đồng thế chấp tài sản số 01/2022/5139392/HĐBĐ ngày 10/6/2022 đã ký kết giữa ông Từ Văn L, bà Nguyễn Thị T2, ông Từ Anh K với Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ - Chi nhánh N. Ông Từ Văn L cũng đã đồng ý với yêu cầu trên của Ngân hàng đối với tài sản mà ông và bà T2 đã thế chấp để bảo đảm khoản tiền vay của ông Từ Anh K. Yêu cầu này của Ngân hàng phù hợp với quy định tại các Điều 317, 319, 320 của BLDS nên có cơ sở chấp nhận.
[4]. Trong quá trình giải quyết vụ án,
Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Từ A Khôi, có nội dung thể hiện Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông K phải trả số tiền vay còn nợ bao gồm nợ gốc, nợ lãi phát sinh từ Hợp đồng tín dụng và xử lý đối với Hợp đồng thế chấp tài sản nhưng ông K không có văn bản trình bày ý kiến và cũng không phản đối những tình tiết, sự kiện cũng như những tài liệu, chứng cứ do Ngân hàng xuất trình nên có cơ sở khẳng định ông K đã từ bỏ quyền của mình được pháp luật quy định.
[5].
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6]. Về chi phí tố tụng:
Chi phí cho yêu cầu Tòa án ra Quyết định xem xét, thẩm định tại chỗ của Ngân hàng là 2.000.000 đồng. Đại diện theo ủy quyền lại của Ngân hàng yêu cầu giải quyết theo quy định của pháp luật. Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên bị đơn là ông Từ Anh K phải chịu toàn bộ chi phí này theo quy định tại khoản 1 Điều 157 của BLTTDS. Do số tiền này Ngân hàng đã nộp tạm ứng nên ông K phải hoàn lại cho Ngân hàng.
[7]. Về án phí:
Ngân hàng yêu cầu ông Từ Anh K trả số tiền 3.012.661.636 đồng và được Tòa án chấp nhận toàn bộ. Vì vậy, theo quy định tại Điều 147 BLTTDS, Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị đơn là ông Từ Anh K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 92.253.000 đồng (Đã làm tròn).
Ngân hàng không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nên được hoàn trả toàn bộ tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 157, khoản 2 Điều 227, Điều 228, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Các Điều 317, 318, 319, 320, 418, 463, 466, 468, 470, 500, 501, 502 của Bộ luật Dân sự;
- - Các Điều 91, 95 của Luật Các tổ chức tín dụng;
- - Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ.
1. Buộc ông Từ Anh K phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ số tiền tổng cộng là 3.012.661.636 (Ba tỷ, không trăm mười hai triệu, sáu trăm sáu mươi mốt nghìn, sáu trăm ba mươi sáu đồng); Trong đó: Số tiền gốc là 2.810.033.299 đồng, số tiền lãi 169.993.106 đồng, số tiền lãi phạt quá hạn là 31.996.139 đồng, số tiền lãi chậm trả lãi là 639.092 đồng.
2. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm - ngày 10/7/2024; ông Từ A Khôi còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quá hạn đã thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 01/2022/5139392/HĐTD ngày 13/6/2022 và bản Điều khoản và điều kiện vay; Hợp đồng cấp hạn mức thấu chi số 01/2023/5139392/HĐTD ngày 28/4/2023; Hợp đồng cấp hạn mức thấu chi số 01/2023/5139392/HĐTD ngày 11/01/2023; Văn bản sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng số 03/2023/5139392/HĐTD ngày 03/11/2023 và bản Điều kiện, điều khoản cấp và sử dụng hạn mức thấu chi đối với số tiền nợ gốc chưa thanh toán, tương ứng với thời gian chậm thanh toán cho đến khi ông Từ A Khôi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng. Trường hợp trong Hợp đồng tín dụng số 01/2022/5139392/HĐTD ngày 13/6/2022 và bản Điều khoản và điều kiện vay; Hợp đồng cấp hạn mức thấu chi số 01/2023/5139392/HĐTD ngày 28/4/2023; Hợp đồng cấp hạn mức thấu chi số 01/2023/5139392/HĐTD ngày 11/01/2023; Văn bản sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng số 03/2023/5139392/HĐTD ngày 03/11/2023 và bản Điều kiện, điều khoản cấp và sử dụng hạn mức thấu chi, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
3. Tiếp tục duy trì Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 01/2021/5139392/HĐBĐ ngày 02/11/2021; Hợp đồng thế chấp tài sản gắn liền với đất số 02/2021/5139392/HĐBĐ ngày 02/11/2021 được ký kết giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ - Chi nhánh N và ông Từ Văn L, bà Nguyễn Thị T2 để đảm bảo cho việc thi hành án gồm: Diện tích 465m² đất và tài sản trên đất là ngôi nhà cấp 4, diện tích xây dựng 100m² thuộc thửa đất số 151, tờ bản đồ số 86. Trong đó diện tích đất ở tại đô thị là 100m², đất trồng cây lâu năm là 365m²; thửa đất có 26m² thuộc hành lang bảo vệ an toàn công trình đường; địa chỉ thửa đất tại khu phố D, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CO 650537, số vào sổ cấp GCN: CS 03891 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh N cấp ngày 20/9/2018 cho ông Từ Văn L và toàn bộ hiện trạng thực tế của tài sản thế chấp. Tài sản được đăng ký giao dịch đảm bảo tại Văn phòng Đ1 - Chi nhánh P - T ngày 02/11/2021 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 01/2021/5139392/HĐBĐ ngày 02/11/2021; Hợp đồng thế chấp tài sản gắn liền với đất số 02/2021/5139392/HĐBĐ ngày 02/11/2021 được Văn phòng C1 công chứng.
4. Tiếp tục duy trì Hợp đồng thế chấp tài sản số 01/2022/5139392/HĐBĐ ngày 10/6/2022 được ký kết giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ - Chi nhánh N và ông Từ A Khôi để đảm bảo cho việc thi hành án gồm: 01 chiếc xe ô tô con 5 chỗ hiệu Mazda 3 ALL NEW LUXURY đời 2022 biển kiểm soát 85A-087.52; số khung: RN2B14AA6NM088302; số máy: P520809216 được Văn phòng C1 công chứng.
Trường hợp ông Từ Anh K không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện nghĩa vụ trả nợ không đầy đủ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật dân sự để thu hồi nợ.
4. Về chi phí tố tụng: Ông Từ Anh K có nghĩa vụ phải hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng).
5. Về án phí:
5.1. Ông Từ Anh K phải chịu 92.253.000 đồng (Chín mươi hai triệu, hai trăm năm mươi ba nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
5.2. Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 44.644.000 đồng (Bốn mươi bốn triệu, sáu trăm bốn mươi bốn nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000843 ngày 28/02/2024 của Chi cục thi hành dân sự thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì Người được thi hành án dân sự, Người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Án xử công khai có mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 09-7-2024). Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt, quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ Bản án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Hồng |
Bản án số 34/2024/DS-ST ngày 09/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 34/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng B + Từ Anh K
