|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 34/2024/HS-ST Ngày: 09 – 07 – 2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Hồ Văn Khánh.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Đinh Xuân Thủy và ông Thông Phi.
Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Văn Tân – Thư ký Toà án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: ông Hoàng Thái Thoại - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 34/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Hà Minh H, sinh ngày 15/9/1988 tại tỉnh Phú Yên; nơi đăng ký thường trú chỗ ở hiện nay: thôn Q, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: tài xế; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn L, sinh năm 1947 và bà Huỳnh Thị S, sinh năm 1949 (Đã chết); có vợ tên Huỳnh Thị Hoài T, sinh năm 1988 và có 03 người con lần lượt sinh năm 2014, 2016 và 2024; tiền án, tiền sự: không; bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 16/04/2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1963; nơi cư trú: khóm Đ, phường Đ, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Võ Di S1, sinh năm 1986; nơi cư trú: số B, đường P, phường G, Quận H, thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.
Anh Hà Minh H1, sinh năm 1977; nơi cư trú: thôn Q, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của anh Hà Minh H1: bị cáo Hà Minh H. Có mặt.
- Người làm chứng, đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của bị hại ông Nguyễn Văn M: Anh Nguyễn Lê H2, sinh năm 1985; nơi cư trú: khóm Đ, phường Đ, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long. Vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
[1] Về hành vi của bị cáo, tội danh, điểm, khoản, điều luật và mức hình phạt mà Viện kiểm sát truy tố, đề nghị:
Bị cáo Hà Minh H có giấy phép lái xe hạng C theo quy định của pháp luật. Khoảng 12 giờ 40 phút, ngày 06/01/2024, bị cáo Hà Minh H điều khiển xe ô tô tải nhãn hiệu HINO, biển kiểm soát 78H-012.92, lưu thông trên đường quốc lộ 55 theo hướng từ xã L, huyện H đi xã Đ, huyện T. Khi đến đoạn đường Km 171+150, thuộc Bản A, xã L, huyện T, tỉnh Bình Thuận; do đường cong cua, bị cáo H điều khiển xe đi không đúng phần đường quy định, chạy lấn sang phần đường bên trái theo hướng đi của bị cáo, tông vào xe ô tô nhãn hiệu Ford, loại Everest, biển kiểm soát 64A-062.81, do anh Võ Di S1 đang điều khiển lưu thông theo chiều ngược lại. Hậu quả làm cho xe ô tô biển số 64A-062.81 bị hư hỏng ở phần đầu xe bên trái.
Tại kết luận giám định số 67/KL-KTHS, ngày 26/01/2024, Phòng K Công an tỉnh B kết luận về vị trí, dấu vết va chạm như sau:
“1. Căn cứ vào các dấu vết vật chứng để lại trong hồ sơ gửi giám định thì vị trí va chạm giữa xe ô tô biển số 64A-062.81 và xe ô tải biển số 78H-012.92 ở phần đường bên trái, đường Q, theo hướng từ huyện H đi xã Đ - T.
2. Dấu vết va chạm giữa xe ô tô biển số 64A-062.81 và xe ô tô tải biển số 78H-012.92:
- Dấu vết va chạm trên xe ô tô biển số 64A-062.81: Gãy, vỡ nhựa, trượt xước bám dính chất màu đen góc cản trước bên trái và ốp bảo vệ liền kề đèn chiếu sáng trước, chiều từ trước ra sau; vỡ khuyết kim loại vành bánh xe trước bên trái, chiều từ ngoài vào tâm trục; trượt xước mất bụi cao su, bám dính chất màu đen toàn bộ mặt ngoài bánh xe trước bên trái; móp méo, biến dạng, trượt xước mất chất màu trắng, bám dính chất màu đen mặt ngoài chắn bùn bánh xe trước và cửa xe trước liền kề bên trái, chiều từ trước ra sau; trượt xước, bám dính chất màu đen mặt ngoài chắn bùn bánh xe sau bên trái, chiều từ trước ra sau phù hợp với các dấu vết va chạm trên xe ô tô tải biển số 78H-012.92: Trượt xước, mất chất màu trắng, bám dính chất màu trắng mặt ngoài chắn bùn bánh xe trước bên trái, chiều từ trước ra sau; trượt xước mất chất màu đen mặt ngoài lốp bánh xe trước bên trái, có chiều ngược chiều quay tiến bánh xe; gãy, vỡ ốp bảo vệ vành bánh xe trước bên trái; trượt xước kim loại đầu đinh ốc cố định bánh xe trước bên trái, chiều trừ ngoài vào tâm trục; cong vênh kim loại thanh cản thùng xe bên trái, chiều từ ngoài vào trong; trượt mất bụi cao su mặt ngoài lốp bánh xe ngoài trục 2 bên trái, có chiều ngược chiều quay tiến bánh xe.
- Dấu vết va chạm trên xe ô tô biển số 64A-062.81: Vỡ hoàn toàn ốp ngoài gương chiếu hậu bên trái, chiều trước ra sau; trượt xước mất chất màu trắng bên trái nắp ca pô, chiều từ trước ra sau phù hợp với các dấu vết va chạm trên xe ô tô tải biển số 78H-012.92: Trượt xước bám dính chất màu đen mặt ngoài thùng xe bên trái, chiều từ trước ra sau; trượt xước kim loại, bám dính chất màu trắng mặt ngoài toàn bộ khung sườn bên trái, chiều từ trước ra sau.
2
3. Căn cứ vào hồ sơ vụ tai nạn giao thông gửi giám định, khi xảy ra tai nạn giao thông xe ô tô biển số 64A-062.81 chuyển động trên dường Quốc lộ E, theo hướng xã Đ - T đi huyện H ; xe ô tô tải biển số 78H-012.92 chuyển động theo hướng từ huyện H đi xã Đ - T”.
Tại kết luận giám định số 58/KL-KTHS, ngày 25/01/2024, Phòng K Công an tỉnh B kết luận về hệ thống an toàn kỹ thuật xe ô tô va chạm như sau:
“a. Tại thời điểm giám định xe ô tô biển số 64A-062.81
1. Hệ thống lái thuộc lái có trợ lực lắp đặt đầy đủ, phát hiện hư hỏng: Rotyn lái, chốt cân bằng chữ A đẩy lệch, cong vênh, mất hiệu lực của hệ thống lái.
Dấu vết hư hỏng trên hệ thống lái do xe va chạm với vật cản trong quá trình xảy ra tai nạn giao thông.
2. Hệ thống phanh chính thuộc loại phanh dầu có trợ lực lắp đặt đầy đủ, phát hiện hư hỏng: Rò rỉ dầu phanh tại 04 bánh xe.
Dấu vết hư hỏng trên hệ thống phanh do xe va chạm với vật cản trong quá trình xảy ra tai nạn giao thông.
Hệ thống phanh tay (phạnh đỗ) có cụm chi tiết lắp đặt đúng vị trí, kỹ thuật
Không đủ điều kiện thực nghiệm để xác định hiệu lực của hệ thống phanh.
3. Phát hiện hư hỏng: Đèn tín hiệu phía trước bên trái vỡ. Các đèn tín hiệu, đèn chiếu sáng, còi còn lắp đặt đầy đủ, còn hoạt động.
Dấu vết hư hỏng trên hệ thống đèn tín hiệu phía trước bên trái do xe va chạm với vật cản trong quá trình xảy ra tai nạn giao thông.
b. Tại thời điểm giám định xe ô tô biển số 78H-01292
1. Hệ thống lái thuộc lái có trợ lực lắp đặt đầy đủ, phát hiện hư hỏng: cơ cấu lái rò rỉ dầu trợ lực, mất hiệu lực hệ thống lái
Dấu vết hư hỏng trên hệ thống lái do xe va chạm với vật cản trong quá trình xảy ra tai nạn giao thông.
2. Hệ thống phanh chính thuộc loại phanh dầu có trợ lực lắp đặt đầy đủ, đúng vị trí kỹ thuật, không phát hiện hư hỏng.
Dấu vết hư hỏng trên hệ thống phanh do xe va chạm với vật cản trong quá trình xảy ra tai nạn giao thông.
Hệ thống phanh tay (phạnh đỗ) có cụm chi tiết lắp đặt đúng vị trí, kỹ thuật, không phát hiện hư hỏng.
Không đủ điều kiện thực nghiệm để xác định hiệu lực của hệ thống phanh.
3. Đèn chiếu sáng, đèn tín hiệu phía trước và phía sau bên phải và bên trái, đồng hồ báo hiệu, còi lắp đặt đầy đủ, không phát hiện hư hỏng, còn hoạt đồng bình thường”.
Tại Kết luận giám định số 02/SGTVT-KLGĐ, ngày 25/01/2024, Sở giao thông vận tải tỉnh B kết luận về việc thiệt hại của xe ô tô biển kiểm soát 64A-062.81 như sau:
3
“- Xe sản xuất năm 2018, hoạt động được 70.429 km, chất lượng còn lại của xe là 60%.
- Mức độ thiệt hại của xe là 12,45%”.
Tại Kết luận định giá tài sản số 14/KL-HDĐGTS ngày 19/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T, kết luận: xe ô tô biển số đăng ký 64A-062.81 bị thiệt hại với tổng trị giá tài sản thiệt hại là 109.660.000đồng.
Tại Cáo trạng số 35/CT-VKSND-TL ngày 06/06/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận đã truy tố bị cáo Hà Minh H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm d khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh khẳng định Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hà Minh H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d khoản 1 Điều 260, các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); xử phạt bị cáo Hà Minh H mức án từ 12 tháng đến 15 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng tính từ ngày tuyên án.
[2] Về trách nhiệm dân sự:
Bị cáo Hà Minh H đã bồi thường thiệt hại cho bên bị hại ông Nguyễn Văn M 120.000.000đồng. Tại phiên tòa, bị hại ông Nguyễn Văn M trình bày đã sửa chữa xe ô tô FORD Everest biển số đăng ký 64A-062.81 với tổng chi phí 185.563.206đồng; do đó ông M yêu cầu bị cáo Hà Minh H phải bồi thường thiệt hại thêm cho ông M số tiền 65.563.206đồng; ông M cung cấp 02 Hóa đơn giá trị gia tăng số 4363 và số 4364 cùng ngày 29/02/2024 của Công ty Cổ phần Đ để chứng minh cho yêu cầu của mình. Bị cáo Hà Minh H thống nhất đồng ý bồi thường thiệt hại thêm cho ông M số tiền 65.563.206đồng. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử công nhận thỏa thuận giữa ông Nguyễn Văn M và bị cáo Hà Minh H, buộc bị áo Hà Minh H có nghĩa vụ bồi thường thêm cho ông M 65.563.206đồng.
[3] Về vật chứng:
Vật chứng thu giữ trong vụ án gồm có: 01 chiếc xe ô tô tải nhãn hiệu HINO, số máy J08EUF14670, số khung RNJFL8JTSEXX14801, biển số đăng ký 78H-012.92; 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu FORD, loại Everest, số máy YNWQAA22928, số khung XMAWAJA22928, biển số đăng ký 64A-062.81; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 013393, có thông tin tên chủ xe là Nguyễn Văn M; 01 Giấy chứng nhận kiểm định số DA 3860386; 01 Giấy phép lái xe hạng B2, số I. Trong quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại 02 chiếc xe ô tô và các giấy tờ nêu trên cho người sử dụng, người đại diện hợp pháp của chủ sở hữu. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử không tiếp tục xử lý các vật chứng này.
[4] Ý kiến của bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi liên quan đều thống nhất với tội danh, điểm, khoản, điều luật và mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với
4
bị cáo; không có ý kiến tranh luận; đều đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Hà Minh H3 vắng mặt nhưng đã có người đại diện hợp pháp là bị cáo Hà Minh H tham gia tố tụng; anh Nguyễn Lê H2 là người làm chứng, đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của bị hại ông Nguyễn Văn M vắng mặt không có lý do, nhưng bị hại ông Nguyễn Văn M đã có mặt và anh H2 cũng đã trình bày lời khai đầy đủ, rõ ràng trong hồ sơ vụ án. Người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa và Đại diện Viện kiểm sát đều đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ các khoản 1 Điều 292 và khoản 1 Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, quyết định xét xử vắng mặt những người này là phù hợp.
[2]. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên:
Quá trình điều tra, truy tố, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ai thắc mắc, khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên. Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó hoạt động tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên là hợp pháp.
[3] Về thẩm quyền giải quyết:
Bị cáo bị truy tố về tội “Vi pham quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017), có mức hình phạt cao nhất đến 05 năm tù, là thuộc tội phạm nghiêm trọng quy định tại điểm b khoản 1 Điều 9 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tội phạm được thực hiện trên địa bàn huyện T, tỉnh Bình Thuận. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 268 và khoản 1 Điều 269 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[4] Về định tội danh; tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và quyết định hình phạt:
[4.1] Về định tội danh:
Trong quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội; lời khai của bị cáo phù hợp các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án; do đó có đủ căn cứ xác định bị cáo đã thực hiện hành vi như sau: Bị cáo Hà Minh H có giấy phép lái xe hạng C theo quy định của pháp luật. Khoảng 12 giờ 40 phút, ngày 06/01/2024, bị cáo Hà Minh H điều khiển xe ô tô tải nhãn hiệu HINO, biển số đăng ký 78H-012.92, lưu thông trên đường Quốc lộ 55 theo hướng từ xã L, huyện H đi xã Đ, huyện T. Khi đến đoạn đường Km171+150, thuộc Bản A, xã L, huyện T, tỉnh Bình Thuận; do đường cong cua, bị cáo H điều khiển xe đi không đúng
5
phần đường quy định, chạy lấn sang phần đường bên trái theo hướng đi của bị cáo, va chạm vào xe ô tô nhãn hiệu Ford, loại Everest, biển kiểm soát 64A-062.81, do anh Võ Di S1 đang điều khiển lưu thông trên phần đường bên phải theo hướng đi của anh S1, ngược chiều với bị cáo. Hậu quả làm cho xe ô tô biển số 64A-062.81 bị hư hỏng ở phần đầu xe bên trái và cửa trước bên trái.
Bị cáo Hà Minh H là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; thế nhưng do thiếu quan sát, không xử lý tốt tình huống; bị cáo đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm an toàn, trật tự công cộng, vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, gây thiệt hại về tài sản cho người khác; điều khiển xe ô tô tải biển số đăng ký 78H-012.92 tham gia giao thông đi không đúng làn đường, phần đường quy định, vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ, gây thiệt hại về tài sản cho ông Nguyễn Văn M với giá trị thiệt hại 109.660.000đồng (Theo Kết luận định giá tài sản số 14/KL-HDĐGTS ngày 19/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T). Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm d khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Vì vậy, Cáo trạng Viện kiểm sát nhân huyện T, tỉnh Bình Thuận truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.
[4.2] Về tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa; bị cáo đã thành khẩn khai báo, đã bồi thường thiệt hại cho bị hại, bị hại đã xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 và 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[4.3] Về quyết định hình phạt:
Hành vi bị cáo đã thực hiện làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn công cộng tại địa phương; gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Vì vậy cần phải xử phạt bị cáo thật nghiêm minh theo quy định của pháp luật để răn đe, cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên, bị cáo được hưởng 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong đó có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự và có nơi cư trú rõ ràng, ổn định; chỉ vì một thời điểm lơ là thiếu quan sát, không xử lý tốt tình huống, bị cáo nhất thời phạm tội; bị cáo là lao động chính trong gia đình, phải nuôi dưỡng 03 người con chưa thành niên trong đó có 01 người con chưa đủ 01 tuổi. Hơn nữa, xét thấy bị cáo có khả năng tự cải tạo, không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội; việc cho bị cáo được hưởng án treo và giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã nơi bị cáo cư trú giám sát giáo dục bị cáo cũng đủ để răn đe, cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung, không làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội; đồng thời cho bị cáo có điều kiện làm việc, tạo thu nhập để nuôi dưỡng 03 người con chưa thành niên còn nhỏ là phù hợp với tính khoan hồng của pháp luật. Do đó, cần áp dụng Điều 65 của
6
Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử hình phạt tù đối với bị cáo nhưng cho bị cáo được hưởng án treo như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
Tại phiên tòa, bị cáo Hà Minh H và bị hại ông Nguyễn Văn M đã tự nguyện thỏa thuận thống nhất bị cáo có nghĩa vụ bồi thường thêm cho ông M số tiền 65.563.206đồng. Xét thấy: thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại ông M là hoàn toàn tự nguyện, nội dung thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội. Do đó cần căn cứ các Điều 212, 213 của Bộ luật Tố tụng dân sự; xử công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại ông M cụ thể như sau: bị cáo Hà Minh H có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại thêm cho ông Nguyễn Văn M số tiền 65.563.206đồng.
[6] Về vật chứng:
Vật chứng thu giữ trong vụ án gồm có: 01 chiếc xe ô tô tải nhãn hiệu HINO, số máy J08EUF14670, số khung RNJFL8JTSEXX14801, biển số đăng ký 78H-012.92; 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu FORD, số loại Everest, số máy YNWQAA22928, số khung XMAWAJA22928, biển số đăng ký 64A-062.81; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 013393, có thông tin tên chủ xe là Nguyễn Văn M; 01 Giấy chứng nhận kiểm định số DA 3860386; 01 Giấy phép lái xe hạng B2, số I. Trong quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại 02 chiếc xe ô tô và tất cả các giấy tờ nêu trên cho chủ sở hữu, người đại diện hợp pháp của chủ sở hữu (Theo các Biên bản giao trả tài sản, đồ vật, tài liệu cùng ngày 30/01/2024 – Bút lục số 114, 115) là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) và các điểm a, b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó Hội đồng xét xử không tiếp tục xử lý.
[7]. Về án phí:
Cần căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, các Điều 23, 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: xử buộc bị cáo Hà Minh H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Về tội danh:
Căn cứ vào Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Tuyên bố bị cáo Hà Minh H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
7
[2]. Về hình phạt:
Căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 260, các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo Hà Minh H 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 02 (hai) năm kể từ ngày tuyên án – Ngày 09/7/2024.
Giao bị cáo Hà Minh H cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo Hà Minh H thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Hà Minh H cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Hà Minh H phải chấp hành hình phạt tù của bản án này.
[3]. Về trách nhiệm dân sự:
Căn cứ các Điều 212, 213 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo Hà Minh H và bị hại ông Nguyễn Văn M cụ thể như sau: bị cáo Hà Minh H có nghĩa vụ bồi thường thêm cho ông Nguyễn Văn M số tiền 65.563.206đồng (Sáu mươi lăm triệu năm trăm sáu mươi ba ngàn hai trăm không sáu đồng).
[4]. Về án phí:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, các Điều 23, 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Buộc bị cáo Hà Minh H phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm và 3.278.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.
[5]. Về nghĩa vụ thi hành án:
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan Thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án Dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
[6]. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai; bị cáo, bị hại, người có quyền lợi liên quan có mặt tại phiên tòa đều được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án - Ngày 09/7/2024; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết (Đã giải thích quyền kháng cáo).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
8
|
Hồ Văn Khánh |
9
Bản án số 34/2024/HS-ST ngày 09/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 34/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hà Minh H phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
