|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH TỈNH QUẢNG BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 34/2024/HS-ST
Ngày: 09 - 7 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Trần Thị Nam
Các Hội thẩm nhân dân: ông Văn Anh Trình và ông Lê Thanh Cường
- Thư ký phiên tòa: bà Võ Thị Trang Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: ông Phan Bảo Cường, Kiểm sát viên.
Trong ngày 09 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 28/2024/TLST - HS ngày 06 tháng 6 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2024 đối với:
Bị cáo Lê Văn M; sinh ngày 01/01/1978 tại tỉnh Quảng Bình. Nơi ĐKNKTT chỗ ở hiện nay: thôn P, xã G, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 02/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông Lê Quang V (Đã chết), con bà: Nguyễn Thị L (Đã chết). Gia đình bị cáo có 08 anh chị em ruột, bị cáo là con thứ bảy trong gia đình. Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/5/2024 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Q, tỉnh Quảng Bình, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 15 phút, ngày 07/05/2024 Công an huyện Q lập biên bản quả tang thu giữ tại nhà Lê Văn M tại hộc giữa đựng đồ trên đầu giường ngủ có 01 (một) lọ nhựa có nắp màu vàng, bên trong có 03 (ba) viên nén hình tròn dạng thuốc tân dược màu hồng và 01 (một) viên nén hình tròn dạng thuốc tân dược màu xanh; tại hộc đựng đồ bên trái đầu giường có 01 (một) chai nhựa tự chế ở giữa thân có một lỗ tròn.
Tại Kết luận giám định số 521/KL-KTHS, ngày 16/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: Mẫu ký hiệu A1 gửi giám định gồm 03 (ba) viên nén hình tròn, màu hồng, trên mỗi viên có in chữ “WY” là chất ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng: 0,265g (không phẩy hai trăm sáu mươi lăm gam). Mẫu ký hiệu A2 gửi giám định gồm 01 viên nén hình tròn, màu xanh, trên một mặt có in chữ “WY” khối lượng 0,073g (Không phẩy không trăm bảy mươi ba gam) không phải là chất ma túy.
Số 03 (ba) viên nén hình tròn, màu hồng, trên mỗi viên có in chữ “WY” là chất ma túy loại Methamphetamine trên, Lê Văn M khai nhận vào ngày 26/04/2024, M sửa lốp ô tô cho một nam thanh niên có Quốc tịch Lào tại khu vực Cửa khẩu L - Quảng Trị (không biết tên, tuổi và địa chỉ cụ thể). Người thanh niên đó đã cho M 04 (bốn) viên ma túy dạng viên nén hình tròn màu hồng và 01 (một) viên dạng nén hình tròn màu xanh. M sử dụng hết 01 (một) viên ma túy dạng viên nén hình tròn màu hồng, còn 03 (ba) viên ma túy dạng viên nén hình tròn màu hồng, M cất giấu để sử dụng đến ngày 07/05/2024 bị bắt quả tang cùng với tang vật.
Vật chứng thu giữ: 01 (một) phong bì thư dán kín, trên ghi nội dung “521/KL-KTHS", niêm phong bằng chữ ký của những người tham gia, hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q; 01 (một) chai nhựa tự chế ở giữa thân có một lỗ tròn; 01 (một) lọ nhựa có nắp màu vàng.
Tại Bản cáo trạng số 352/CT – VKSQB-P1 ngày 06 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình truy tố bị cáo Lê Văn M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự;
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình thực hành quyền công tố tại phiên tòa đã phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng. Giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Lê Văn M từ 12 đến 18 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định là 0,143g (không phẩy một trăm bốn mươi ba gam) ma túy loại Methamphetamine và vỏ bao gói; 01 (một) chai nhựa tự chế ở giữa thân có một lỗ tròn; 01 (một) lọ nhựa có nắp màu vàng.
Đề nghị tuyên buộc bị cáo phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo Lê Văn M thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Cơ quan Điều tra, cơ quan Truy tố đã thực hiện đúng chức năng, thẩm quyền, ban hành các quyết định tố tụng theo đúng trình tự pháp luật quy định.
[2]. Xem xét hành vi của bị cáo bị truy tố:
Tại phiên toà bị cáo Lê Văn M đã khai nhận hành vi của mình như sau: vào ngày 26/04/2024, M sửa lốp ô tô tại khu vực Cửa khẩu L1 - Quảng Trị cho một nam thanh niên có quốc tịch Lào (không biết tên, tuổi và địa chỉ cụ thể). Người này đã cho M 04 (bốn) viên nén ma túy hình tròn màu hồng và 01 (một) viên nén hình tròn màu xanh. M sử dụng hết 01 (một) viên nén ma túy hình tròn màu hồng, còn lại 03 (ba) viên nén ma túy hình tròn màu hồng, M cất giấu để sử dụng. Đến ngày 07/05/2024, Công an huyện Q lập biên bản quả tang thu giữ tại nhà Lê Văn M tại hộc giữa đựng đồ trên đầu giường ngủ có 01 (một) lọ nhựa có nắp màu vàng, bên trong có 03 (ba) viên nén hình tròn màu hồng và 01 (một) viên nén hình tròn màu xanh; tại hộc đựng đồ bên trái đầu giường có 01(một) chai nhựa tự chế ở giữa thân có một lỗ tròn là dụng cụ của Lê Văn M dùng để sử dụng ma túy.
Tại Kết luận giám định số 521/KL-KTHS, ngày 16/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: Mẫu ký hiệu A1 gửi giám định gồm 03 (ba) viên nén hình tròn, màu hồng, trên mỗi viên có in chữ “WY” là chất ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng: 0,265g (không phẩy hai trăm sáu mươi lăm gam). Methamphetamine nằm trong danh mục các chất ma túy, Số thứ tự: 247, Danh mục IIC, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25 tháng 8 năm 2022 của Chính phủ. Mẫu ký hiệu A2 gửi giám định gồm 01 viên nén hình tròn, màu xanh, trên một mặt có in chữ “WY” khối lượng 0,073g (Không phẩy không trăm bảy mươi ba gam) không phải là chất ma túy.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo M khai 03 (ba) viên nén hình tròn, màu hồng (chất ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng: 0,265g (không phẩy hai trăm sáu mươi lăm gam)) có nguồn gốc từ một người thanh niên quốc tịch Lào đem cho bị cáo, bị cáo cất để sử dụng. Lời khai này phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án.
Bị cáo Lê Văn M là người có năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo biết ma túy do Nhà nước độc quyền quản lý, nhận thức được là loại chất gây nghiện gây hại lớn cho sức khỏe con người và trật tự, trị an xã hội, nhưng bị cáo vẫn cố tình cất giữ để sử dụng trái phép. Hành vi của bị cáo M cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình đã truy tố và bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát huyện Quảng Ninh tại phiên tòa đối với bị cáo Lê Văn M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
[3]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Lê Văn M không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo M thành khẩn khai báo, thể hiện ăn năn hối cải; Bố bị cáo là người có công trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, được Nhà nước tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng nhất; vì vậy cần xem xét cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét áp dụng hình phạt.
[4]. Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và áp dụng hình phạt cho bị cáo:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm mất trật tự, trị an tại địa phương; Tội phạm ma túy ngày càng diễn biến phức tạp; tác động xấu đến nguồn lực lao động chính phát triển xã hội, đất nước; là nguồn nguy cơ phát sinh của nhiều tội phạm khác; gây bất bình, hoang mang cho quần chúng nhân dân. Vì tính chất nguy hiểm của loại tội phạm này cho xã hội nên các chế định pháp luật của Nhà nước xử lý hình sự đặc biệt nghiêm khắc. Vì vậy để răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội, đồng thời có hình thức cải tạo, giáo dục riêng bị cáo M, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, trừng trị nghiêm khắc đối với tội phạm ma túy.
[5]. Đối với người đàn ông đưa cho bị cáo M ma túy, bị cáo M khai là người quốc tịch Lào, cơ quan CSĐT Công an tỉnh Q đã điều tra, xác minh theo lời khai của bị cáo, nhưng không có dữ liệu nào thể hiện, xác định được người đàn ông nào đưa cho M số ma túy trên, vì vậy không có cơ sở để xử lý.
[6]. Về xử lý vật chứng:
Đối với 03 (Ba) viên nén hình tròn, màu hồng là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,265g (không phẩy hai trăm sáu mươi lăm gam). Quá trình giám định sử dụng hết 0,122g (không phẩy một trăm hai mươi hai gam), còn lại 0,143g (không phẩy một trăm bốn mươi ba gam) ma túy loại Methamphetamine. Hiện vật chứng đã chuyển giao cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Quảng Ninh; căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự cần tịch thu, tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định này.
Đối với 01 viên nén hình tròn, màu xanh, trên một mặt có in chữ “WY” khối lượng 0,073 không phải là chất ma túy, trong quá trình giám định đã sử dụng hết nên không xem xét.
Đối với 01 (một) chai nhựa tự chế ở giữa thân có một lỗ tròn và 01 (một) lọ nhựa có nắp màu vàng không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
[7] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo Lê Văn M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136; Điều 260; khoản 1 Điều 268, khoản 1 Điều 269; khoản 1 Điều 298; khoản 1 Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, xử:
1. Về tội danh và hình phạt:
Tuyên bố bị cáo Lê Văn M tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Xử phạt bị cáo Lê Văn M (Mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo M bị bắt tạm giữ, tạm giam (07/5/2024).
Tiếp tục tạm giam bị cáo Lê Văn M ngày kể từ ngày tuyên án 09/7/2024.
2. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu, tiêu hủy 0,143g (không phẩy một trăm bốn mươi ba gam) ma túy loại Methamphetamine sau khi giám định và toàn bộ vỏ bao gói được niêm phong trong 01 (một) phong bì thư dán kín, trên ghi nội dung “521/KL-KTHS", niêm phong bằng chữ ký của những người tham gia, hình dấu của phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Q, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/6/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Q và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chai nhựa tự chế ở giữa thân có một lỗ tròn và 01 (một) lọ nhựa có nắp màu vàng; theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/6/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Q và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.
3. Về án phí sơ thẩm: Buộc bị cáo Lê Văn M phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (09/7/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Nam |
Bản án số 34/2024/HS-ST ngày 09/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 34/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Văn Mười tàng trữ trái phép ma túy
