|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 34/2024/HS-ST |
|
|
Ngày 09-5-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Công
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hồ Thị Hoa
Ông Nguyễn Văn Cho
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đông Hải - Kiểm sát viên
Ngày 09 tháng 5 năm 2024 tại Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 35/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Trần Văn Đ, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1991 tại A, Kiên Giang; CCCD số [...]; Nơi cư trú: ấp X, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang; Giới tính: nam; Nghề nghiệp: Làm nghề biển; trình độ văn hóa: 3/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông Trần Văn M và bà Lê Thị N; vợ: Thái Thị Hoàng D (Thái Mai Hoàng D1); con: có 01 người sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Nguyễn Văn H, sinh năm 1972. Địa chỉ: ấp X, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 07 giờ, một ngày đầu tháng 05 năm 2023, ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1972, thường trú ấp X, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang đi thăm lú dây, đặt ngoài vùng biển thuộc xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang thì phát hiện bị mất 90 cái lú dây.
Đến ngày 19/5/2023, ông Nguyễn Văn H nhìn thấy số lú bị mất trên vỏ của Trần Văn Đ, sinh năm 1991, thường trú ấp X, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang nên trình báo Công an xã T.
Tại Công an xã T, ông Nguyễn Văn H nhìn ra được 31 (Ba mươi mốt) cái lú dây, loại lú 20 vành, dài 06m, lưới chỉ cào, đuôi lú chỉ 02cm, mình lú chỉ 04cm, nên Trần Văn Đ tự nguyện giao nộp 31 (Ba mươi mốt) cái lú dây cho Cơ quan Công an. Đồng thời, giữa ông Nguyễn Văn H và Trần Văn Đ tự thỏa thuận với nhau việc khắc phục hậu quả nhưng Trần Văn Đ không thực hiện, nên đến ngày 15/8/2023 ông Nguyễn Văn H đến Cơ quan điều tra tố giác Trần Văn Đ có hành vi Trộm cắp tài sản.
Quá trình điều tra xác định: Vào khoảng 06 giờ, một ngày đầu tháng 5 năm 2023, bị can Trần Văn Đ đi đặt 280 cái lú dây ngoài vùng biển thuộc xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang. Đến khoảng 06 giờ ngày hôm sau, bị can Trần Văn Đ đến dở cờ lú đầu tiên thì phát hiện bị mất khoảng 40 cái lú dây, bị can Trần Văn Đ, tiếp tục đi dở các cờ lú còn lại rồi quay về vị trí cờ lú bị mất, dùng mỏ rà bằng sắt bỏ xuống biển, chạy rà xung quanh khu vực mất lú và rà dính 05 đến 06 cái lú dây của ông Nguyễn Văn H, sau khi kéo số lú dây rà được, bị can Trần Văn Đ tiếp tục rà khoảng 01 tiếng đồng hồ, dính lú dây nhiều lần được tổng cộng 26 cái lú dây thì nghỉ, chạy vỏ máy về nhà.
Ngoài ra, trước đó 10 ngày, cũng bằng cách thức tương tự bị can Trần Văn Đ rà được 05 (Năm) cái lú dây của ông Nguyễn Văn H. Tổng cộng 02 lần rà được 31 (Ba mươi mốt) cái lú dây, đến ngày 19/5/2023 thì bị phát hiện.
Tại Cơ quan điều tra, bị can Trần Văn Đ thừa nhận do bị mất nhiều lú nên tiến hành rà tìm, khi rà dính số lú dây tuy biết không phải là của mình nhưng bị can Đ vẫn đem về nhà cất giấu.
Cơ quan điều tra ra văn bản yêu cầu định giá tài sản tại Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện A. Đến ngày 26 tháng 09 năm 2023, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện A có văn bản số: 33/KL-HĐĐGTS, kết luận như sau:
- - 26 (Hai mươi sáu) cái lú dây, loại lú 20 vành, dài 06m, lưới chỉ cào, đuôi lú chỉ 2cm, mình lú chỉ 4cm, mua năm 2023 trị giá 4.322.500 đồng.
- - 05 (Năm) cái lú dây, loại lú 20 vành, dài 06m, lưới chỉ cào, đuôi lú chỉ 2cm, mình lú chỉ 4cm, mua năm 2023 trị giá 831.250 đồng.
Tổng giá trị tài sản cần định giá: 5.153.750 đồng.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: Trong giai đoạn điều tra vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện A đã tạm giữ: 31 (Ba mươi mốt) cái lú dây, loại lú 20 vành, dài 06m, lưới chỉ cào, đuôi lú chỉ 02cm, mình lú chỉ 04cm. Sau khi phục vụ công tác điều tra, định giá tài sản đã trả lại cho người bị hại là ông Nguyễn Văn H.
Đối với công cụ là mỏ rà dùng để rà tìm lú, có liên quan đến vụ án, bị can Trần Văn Đ đã làm thất lạc nên không thu giữ được.
Riêng phương tiện là vỏ máy, bị can Trần Văn Đ sử dụng để rà tìm lú, là do bị can trong lúc tìm tài sản của mình nhưng nhất thời phạm tội, không nhằm mục đích sử dụng phương tiện để cố ý thực hiện hành vi phạm tội, nên Cơ quan điều tra không đề nghị tịch thu là có căn cứ.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là ông Nguyễn Văn H yêu cầu bị can Trần Văn Đ bồi thường số lú ông bị mất chưa thu hồi được với tổng số tiền là 37.450.000 đồng, yêu cầu được giải quyết tại tòa.
Tại Cáo trạng số 05/CT-VKS-AM ngày 05-01-2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang truy tố Trần Văn Đạt về tội Trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa,
- - Kiểm sát viên kết luận bị cáo Trần Văn Đ phạm tội Trộm cắp tài sản và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn Đ từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng cải tạo không giam giữ; Về vật chứng là 31 cái lú dây cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho ông Nguyễn Văn H nhận; về trách nhiệm dân sự đề nghị ghi nhận sự thỏa thuận tại phiên tòa.
- - Bị cáo trình bày: Bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi vi phạm đúng như cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát đã nêu. Trong lời nói sau cùng bị cáo trình bày đã biết lỗi, rất hối hận về hành vi của bản thân đã thực hiện, xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- - Bị hại: Đồng ý nhận số tiền bồi thường là 3.000.000 đồng, không yêu cầu gì thêm; về trách nhiệm hình sự xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện A, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện cơ bản đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Về hành vi phạm tội, tội danh:
[2.1] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, từ đó có đủ căn cứ để kết luận: Vào khoảng đầu tháng 5 năm 2023 tại vùng biển thuộc xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang, Trần Văn Đ đã có hành vi lén lút lấy trộm 31 cái lú dây, loại lú 20 vành, dài 06m, lưới chỉ cào, đuôi lú chỉ 2cm, mình lú chỉ 4cm của ông Nguyễn Văn H, theo kết luận định giá có giá trị là 5.153.750 đồng.
[2.2] Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của bị hại; khi thực hiện hành vi bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc chiếm đoạt tài sản của người khác là phạm tội nhưng bị cáo vẫn thực hiện, nên thuộc trường hợp phạm tội với lỗi cố ý. Khi bị cáo chiếm đoạt tài sản, số lú của bị hại đang đặt ngoài vùng biển; khi đó không có sự quản lý trực tiếp của bị hại và bị cáo đã lợi dụng sơ hở đó để chiếm đoạt nên là hành vi lén lút chiếm đoạt; tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị theo kết luận định giá là 5.153.750 đồng. Do đó, Viện kiểm sát truy tố và kết luận bị cáo Trần Văn Đ phạm tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
[3] Về hình phạt:
[3.1] Về tình tiết tăng nặng, tính chất của vụ án: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương, gây bất bình trong nhân dân nên cần có hình thức xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[3.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường khắc phục hậu quả đầy đủ cho bị hại và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
[3.3] Về quyết định hình phạt, HĐXX thấy rằng bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nhưng gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, gây phức tạp thêm tình hình an ninh, trật tự trên biển, gây hoang mang, lo lắng trong nhân dân, nên cần xử lý nghiêm để giáo dục, răn đe. Thấy bị cáo có nhân thân tốt, mới phạm tội lần đầu, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần xử phạt bằng hình phạt cải tạo không giam giữ là phù hợp với hành vi, tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo, nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Thấy bị cáo có nghề nghiệp với thu nhập không ổn định, khó đảm bảo việc thi hành án nên miễn khấu trừ thu nhập trong giai đoạn thi hành án.
[4] Về trách nhiệm dân sự: tại phiên tòa bị cáo và bị hại đã thỏa thuận và bị cáo Đ đã bồi thường đầy đủ cho bị hại số tiền 3.000.000 đồng, bị hại không yêu cầu gì thêm.
[5] Về án phí, bị cáo Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn Đ phạm tội Trộm cắp tài sản.
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Văn Đ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ về tội Trộm cắp tài sản. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Trần Văn Đ cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang giám sát giáo dục trong thời gian chấp hành án.
Miễn việc khấu trừ thu nhập cho bị cáo trong giai đoạn thi hành án.
- Về trách nhiệm dân sự, bị hại không yêu cầu gì thêm nên không xét.
- Về án phí, căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo Trần Văn Đ chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 09-5-2024)./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Lê Chí Công |
Bản án số 34/2024/HS-ST ngày 09/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 34/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn Đạt phạm tội Trộm cắp tài sản
