|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 34/2024/HSST
Ngày 09/4/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Quốc Kiệt.
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thanh Hà;
Ông Bùi Quang Nghĩa.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Anh Dũng, Thẩm tra viên chính Tòa án nhân dân quận Ô Môn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ô Môn tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Nhủ – Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 09 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ô Môn, Thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 14/2024/HSST ngày 23 - 01 - 2024, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2024/QĐXXST - HS ngày 01 - 3 – 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2024/HSST-QĐ ngày 27 tháng 3 năm 2024, đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Quốc B, sinh ngày 22 tháng 5 năm 1994. Giới tính: Nam.
Nơi sinh: Cần Thơ.
ĐKHKTT: Khu vực Tân Xuân, phường Trường Lạc, quận Ô Môn, TP. Cần Thơ.
Chỗ ở: Khu vực Tân Xuân, phường Trường Lạc, quận Ô Môn, TP. Cần Thơ.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 06/12;
Nghề nghiệp: làm ruộng.
Con ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1954 (Sống) và bà Trương Thị T, sinh năm 1959 (Sống).
Anh chị em ruột có 06 người, (lớn sinh năm 1979, nhỏ sinh năm 1993).
Vợ Nguyễn Thị Mỹ D, sinh năm 1996;
Con 01 người sinh năm 2017.
Tiền án: Không.
Tiền sự: 01 lần vào ngày 06/11/2022 bị Công an phường T, quận Ô, TP . quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt tạm giam từ ngày 21/11/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận Ô.
2. Trần Thanh N, sinh ngày 19 tháng 6 năm 1995. Giới tính: Nam.
Nơi sinh: Cần Thơ.
ĐKHKTT: Ấp Tân Lợi, xã Tân Thới, huyện Phong Điền, TP. Cần Thơ.
Chỗ ở: Ấp Tân Lợi, xã Tân Thới, huyện Phong Điền, TP. Cần Thơ.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 03/12;
Nghề nghiệp: làm thuê.
Con ông Trần Tấn H, sinh năm 1967 (Sống) và bà Trương Thị T, sinh năm 1969 (Sống).
Anh, chị, em ruột có 02 người, (lớn sinh năm 1991, nhỏ sinh năm 1993).
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo hiện đang chấp hành bản án trong vụ án khác tại Nhà tạm giữ Công an quận Ô, TP ..
(có mặt tại phiên tòa).
Bị hại: Ông Trương Minh P, sinh năm 2000.
Ông P ủy quyền cho bà Bùi Thị Đ, sinh năm 1980.
Cùng địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện P, TP ..
(Có mặt tại phiên tòa)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Nguyễn Chế L, sinh năm 1995.
Địa chỉ: 304/AP1, ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre.
(Vắng mặt tại phiên tòa).
Ông Trần Quốc K, sinh năm 2005;
Bà Lê Thị Tuyết M, sinh năm 1976.
Cùng địa chỉ: 409/AP1, ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre.
(Vắng mặt tại phiên tòa).
Bà Nguyễn Thị Mỹ D, sinh năm 1996.
Địa chỉ: KV T, phường T, quận Ô, TP ..
(Có mặt tại phiên tòa).
Người làm chứng:
Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1995.
Địa chỉ: KV B, phường T, quận Ô, TP .
(Vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Bản cáo trạng số 27/CT-VKSOM ngày 22/01/2024, của Viện kiểm sát nhân dân quận Ô Môn truy tố các bị cáo Nguyễn Quốc B và Trần Thanh N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự:
Nguyễn Quốc B cùng với Trần Thanh N là bạn bè quen biết ngoài xã hội, nhà của B gần nhà với ông Trương Văn M1, địa chỉ tại khu V, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ. Vào tối ngày 14 tháng 01 năm 2023 Nguyễn Quốc B một mình điều khiển xe mô tô biển số 65E1-189.69 đi chơi. Đến rạng sáng ngày 15 tháng 01 năm 2023 B điều khiển xe về nhà, khi đi ngang qua nhà của ông M1 thì B phát hiện xe mô tô hiệu Suzuki Satria biển số 65E1-606.83 của Trương Minh P là cháu nội của ông M1 đang dựng ngoài đường lộ trước cổng rào nhà. Lúc này B nảy sinh ý định lấy trộm xe nên điện thoại qua Zalo cho Trần Thanh N và nói với N “Có chiếc xe đậu ngoài lộ mày có lấy không, mấy có đoán không” thì Trần Thanh N trả lời “Có, mày xuống nhà rước tao”. Lúc này B điều khiển xe mô tô biển số 65E1- 189.69 đến ấp T, xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ rước N. Khi B đến N đưa cho B 01 cây đoản và 01 cây điều làm tâm công cụ để bẻ khóa xe, B cắt giấu đoản, điều vào túi quần và điều khiển xe mô tô chở N đến vị trí xe mô tô biển số 65E1 - 606.83 đang dựng để lấy trộm. Khi đến N dẫn xe mô tô biển số 65E1 - 606.83 đi ra khỏi vị trí dựng ban đầu khoảng 05m đến 10m, B sử dụng điều và đoản để bẻ khóa xe, sau khi bẻ được ổ khóa xe, B đưa cây đoản và cây điều làm cho N giữ rồi điều khiển xe trộm được còn N điều khiển xe mô tô biển số 65E1- 189.69 chạy đến Bệnh viện Nhi đồng thành phố C gửi xe đợi tìm người mua để bán, còn cây đoản và cây điều tâm trên đường đi N đã ném bỏ nhưng không xác định được vị trí ném. Khi đến Bệnh viện nhi đồng thành phố C thì Nguyễn Quốc B vào gửi xe, giữ vé xe rồi đi ra điều khiển xe mô tô biển số 65E1- 189.69 chở N về.
Đến ngày 16 tháng 01 năm 2023 N nhờ Nguyễn Văn T1, sinh năm 1995, nhà ở khu vực B, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ là bạn bè quen biết ngoài xã hội với N tìm người mua xe mô tô Suzuki Satria để bán, trước khi nhờ T1 thì N nói với T1 xe không có giấy tờ, bán với số tiền 10.000.000 đồng, N không có nói cho T1 biết là xe trộm cắp mà có. Đến tối cùng ngày 16 tháng 01 năm 2023, T1 điện thoại Zalo cho Nguyễn Chế L, sinh năm 1995, địa chỉ ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre là bạn bè từng đi làm thuê chung tàu đánh cá với T1 nói “Có chiếc xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Satria không giấy tờ còn mới, có ai mua không chỉ dùm bán với giá 10.000.000 đồng”, L kêu T1 gửi hình ảnh xe qua cho L xem thì T1 nói không có xe ở đây nên L kêu T1 mang xe qua nhà L để L xem nếu được thì mua luôn. Sau khi điện cho L xong T1 nói lại cho N biết có người muốn xem xe, nếu được thì mua luôn nên N liên lạc với B để lấy vé giữ xe mang xe đi bán. Đến sáng ngày 17 tháng 01 năm 2023 N lấy cây kéo tại nhà rồi thuê xe T2 cùng với T1 đến Bệnh viện nhi đồng thành phố C để lấy xe và điều khiển xe đến huyện B, tỉnh Bến Tre để bán cho L. Khi N, T1 điều khiển xe đến nhà L thì L hỏi N “Xe mô tô này bán giá cả ra sao” thì N nói “Hôm qua L nói chuyện giá cả với T1 làm sao thì y như vậy đó”. Do trước đó Trần Quốc K, sinh năm 2005, địa chỉ ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre là nhân viên làm việc tại cửa hàng nhôm, sắt T do L làm chủ nhờ L tìm mua xe nên L hỏi K có muốn xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Satria F150, biển số 65E1- 606.83 này không thì Trần Quốc K nói mua, lúc này L nói với K xe mô tô này L mua rồi có gì sau này L bán lại cho K sau. L kiểm tra xe thì phát hiện ổ khóa bị hư hỏng, không có chìa khóa, L hỏi N mở khóa thế nào thì N lấy cái kéo từ trong túi áo ra mở khóa xe, còn cốp xe thì N dùng tay kéo ra do trước khi lấy trộm xe B đã cạy cốp xe ra kiểm tra nhưng trong cốp không có tài sản gì. Sau đó L đồng ý mua xe và tổ chức uống rượu, bia tại nhà của L gồm có L, N, T1 và người tên N1 nhưng không rõ địa chỉ, ngồi uống rượu, bia được một lúc thì N1 đi về trước. Lúc này L hỏi N “Xe mô tô biển số 65E1- 606.83 ở đâu N có mà sao không có giấy tờ” thì N trả lời “Xe này mới đá nên không có giấy tờ xe”, L nói với N “Ở đây bao giấy tờ”. Sau đó L đưa trước cho N số tiền 7.000.000 đồng, số tiền còn lại 3.000.000 đồng L kêu N ở lại ngồi đợi L đi mượn tiền để đưa. Do N không chịu ở lại nên N nói với L khi nào có tiền thì chuyển khoản vào số tài khoản của Nguyễn Văn T1 vì N không có số tài khoản, sau khi nhận tiền từ L thì N cho T1 1.000.000 đồng. Để có phương tiện đưa N và T1 ra bến xe để về lại thành phố Cần Thơ, L kêu N mở khóa xe, N sử dụng cây kéo mở khóa nhưng không mở được, thấy vậy L sử dụng cây kéo cắt dây điện trong xe và kết nối với dây nguồn khởi động. Sau khi kết nối L đề xe nổ máy rồi L điều khiển xe chở N và T1 ra bến xe về nhà. Đến chiều cùng ngày 17 tháng 01 năm 2023 L gọi điện thoại cho T1 để nhắn số tài khoản chuyển tiền cho N, sau đó L chuyển số tiền 3.000.000 đồng vào số tài sản 5925051995 của Nguyễn Văn T1 mở tại ngân hàng V, chi nhánh C. Sau khi nhận được tiền thì T1 nói cho N biết là L đã chuyển tiền cho N, lúc này N điện thoại kêu B cho số tài khoản ngân hàng để N nhờ T1 chuyển tiền cho B, sau đó T1 chuyển vào tài khoản số 0788807842 mở tại Ngân hàng T3 do B sử dụng số tiền 2.500.000 đồng, còn lại số tiền 500.000 đồng T1 rút tiền đưa lại cho N.
Sau khi mua xe mô tô 65E1- 606.83 của N thì L kêu Trần Quốc K để bán xe với số tiền 30.000.000 đồng, K về nhà nói với bà Lê Thị Tuyết M mẹ ruột K để cùng đi coi xe và đồng ý mua, bà M đưa trước cho L số tiền 20.000.000 đồng, về giấy tờ xe thì L nói qua tết âm lịch năm 2023 sẽ đưa cho K. Để có giấy đăng ký xe và biển số giao cho K, L lên mạng xã hội Facebook vào trang “Dịch vụ hỗ trợ giấy tờ Mr. Q” nhưng không rõ họ tên và địa chỉ và nhắn tin bằng M2 làm giả giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Satria F150, màu trắng-đỏ-đen thì dịch vụ hỗ trợ giấy tờ Mr. Q1 trả lời làm giả giấy chứng nhận đăng ký xe giá 2.000.000 đồng, biển số xe mô tô giả giá 300.000 đồng. Để K và bà M không nghi ngờ xe do trộm cắp mà có L kêu K đưa giấy chứng minh nhân dân của K để L làm thủ tục sang tên nhưng thực chất là để L chụp hình lấy thông tin gửi chỗ làm giấy tờ và biển số giả. Đến khoảng ngày 28 tháng hoặc ngày 29 tháng 01 năm 2023 không nhớ chính xác ngày thì S1 giao cho L 01 biển số xe số 71C2- 463.91 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mang tên Trần Quốc K, địa chỉ 409/ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre, biển số đăng ký 71C2- 463.91, màu sơn trắng - đỏ - đen, nhãn hiệu Suzuki, số loại Satria F150, số máy CGA1622009, số khung 2XS233B, L kiểm tra và trả cho S2 số tiền 2.380.000 đồng. Sau khi nhận được giấy chứng nhận đăng ký xe và biển số xe giả, L gắn biển số 71C2- 463.91 vào xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Satria F150 đối với biển số 65E1- 606.83 L mang đi vứt bỏ xuống cảng cá Tiệm Tôm ở cửa Sông Đ thuộc thị trấn T, huyện B, tỉnh Bến Tre, đồng thời L điện thoại cho K và bà M đến nhận giấy chứng nhận đăng ký xe và xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Satria F150, biển số xe 71C2- 463.91. Sau đó L kêu bà M đưa số tiền mua xe còn lại là 10.000.000 đồng cùng số tiền 500.000 đồng là tiền phí S1. Tuy nhiên bà M chỉ đưa 10.000.000 đồng, số tiền còn lại 500.000 đồng thì bà M kêu L trừ vào tiền lương của K.
Đến ngày 17 tháng 7 năm 2023 Trần Quốc K mang giấy chứng nhận đăng ký xe và mô tô nhãn hiệu Suzuki Satria F150, biển số 71C2- 463.91 đến Công an xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre để làm thủ tục xin thay đổi màu sơn. Qua kiểm tra Công an xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre phát hiện giấy chứng nhận đăng ký xe và biển số xe 71C2- 463.91 là giả, kiểm tra xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Satria F150, số máy: CG1622009, số khung: MH8DL11ANNJ121653 có biển số xe là: 65E1-606.83 là của Trương Minh P bị mất trộm tại phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ nên đã tiến hành tạm giữ giấy chứng nhận đăng ký xe và xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Satria F150, biển số 71C2- 463.91 để bàn giao cho cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Ô, thành phố Cần Thơ tiến hành xác minh làm rõ.
Tang vật thu giữ: 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 71005320 tên Trần Quốc K, địa chỉ 409/ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre, biển số đăng ký 71C2- 463.91; 01 giấy khai đăng ký xe mô tô ngày 17 tháng 7 năm 2023 của Trần Quốc K tại Công an xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Satria F, màu sắc trắng - đỏ - đen số máy CG1622009, số khung: MH8DL11ANNJ121653 đã qua sử dụng; quá trình điều tra gia đình Nguyễn Quốc B tự nguyện giao nộp số tiền 2.500.000 đồng, 01 bản phô tô Huân chương kháng chiến hạng ba của ông Nguyễn Văn M3 và 01 bản phô tô Kỷ niệm chương chiến sĩ cách mạng bị bắt tù đầy của ông Nguyễn Văn M3 (BL231).
Căn cứ Kết luận giám định số 118/KLGĐ-KTHS-KT ngày 13 tháng 9 năm 2023 của Phòng K1 Công an thành phố C kết luận (BL36)
Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 71 005320, biển số đăng ký 71C2 - 463.91, ngày 12/6/2022 ký hiệu A là giấy chứng nhận giả.
Căn cứ Kết luận giám định số 315/KLGĐ-KTHS-KT ngày 22 tháng 8 năm 2023 của Phòng K1 Công an thành phố C kết luận (BL34)
Xe mô tô biển số 71C1-463.91 nhãn hiệu Suzuki, số loại Satria, trước khi giám định có số khung: MH8DL11ANNJ121653 và số máy CG1622009.
Sau giám định: Tại vị trí số khung các ký tự: MH8DL11ANNJ121653 không phát hiện dấu vết đục sửa, tẩy xoá, hàn ghép, tại vị trí số máy các ký tự: CGA1-622009 không phát hiện dấu vết đục sửa, tẩy xoá, hàn ghép.
Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số 106/KL-HĐĐGTS ngày 06 tháng 9 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Ô kết luận (BL43-45).
Xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Satria F150 số máy: CG1622009, số khung: MH8DL11ANNJ121653 của xe mô tô biển số 65E1-606.83 hiện đang gắn biển số 71C2-463.91 có giá trị là 27.333.000 đồng.
Quá trình điều tra Trần Thanh N, Nguyễn Quốc B đã nhận tội (BL57-63; BL106-111).
Đối với Nguyễn Văn T1 trước khi N nhờ tìm nơi bán xe thì N không có nói cho T1 biết xe mô tô do N trộm cắp mà có. Ngoài ra T1 cũng không biết xe mô tô trên do N trộm cắp mà có nên không xem xét xử lý.
Đối với Trần Quốc K và Lê Thị Tuyết M trước khi mua xe không biết xe mô tô biển số 65E1-606.83 do N trộm cắp mà có nên không xem xét xử lý.
Đối với Nguyễn Chế L thực hiện hành vi tiêu thụ tài sản và hành vi làm giả con dấu, giấy tờ của cơ quan, tổ chức tại địa bàn huyện B, tỉnh Bến Tre nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Ô, thành phố Cần Thơ chuyển hồ sơ, tài liệu có liên quan đến hành vi của L đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, tỉnh Bến Tre để tiếp nhận giải quyết theo thẩm quyền (BL277).
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Ô, thành phố Cần Thơ đã quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Satria F150 số máy: CG1622009, số khung: MH8DL11ANNJ121653 đã qua sử dụng (BL145).
Tại phiên tòa:
Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Các bị cáo đồng ý nộp số tiền 10.000.000 đồng thu lợi bất chính để trả lại cho Nguyễn Chế L. Gia đình bị cáo B đã tự nguyện nộp số tiền thu lợi bất chính 2.500.000 đồng, bị cáo B đồng ý nộp số tiền thu lợi bất chính 7.500.000 đồng
Đại diện bị hại trình bày: Bị hại đã được nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường gì khác, chỉ xin xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Mỹ D không có ý kiến trình bày, không có yêu cầu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ô Môn phân tích lời khai của các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau; phù hợp với các chứng cứ đã được thu thập, có đủ cơ sở xác định các bị cáo Nguyễn Quốc B và Trần Thanh N phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, nên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng đã nêu. Sau khi phân tích các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc B từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 56 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Trần Thanh N từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
Tổng hợp hình phạt 05 năm 06 tháng tù của Bản án số 66/2023/HSST ngày 18/9/2023 của Tòa án nhân dân quận Ô Môn, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án.
Đối với Nguyễn Chế L thực hiện hành vi tiêu thụ tài sản và hành vi làm giả con dấu, giấy tờ của cơ quan, tổ chức tại địa bàn huyện B, tỉnh Bến Tre nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Ô, thành phố Cần Thơ chuyển hồ sơ, tài liệu có liên quan đến hành vi của L đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, tỉnh Bến Tre để tiếp nhận giải quyết theo thẩm quyền.
Về trách nhiệm dân sư:
Bị hại đã được nhận lại tài sản không có yêu cầu gì khác, nên không xem xét.
Ghi nhận việc gia đình bị cáo B tự nguyện nộp số tiền thu lợi bất chính 2.500.000 đồng, buộc bị cáo N phải giao nộp số tiền thu lợi bất chính 7.500.000 đồng, để hoàn trả lại cho Nguyễn Chế L1 số tiền 10.000.000 đồng. Riêng số tiền 30.000.000 đồng Trần Quốc K và bà Lê Thị Tuyết M mua chiếc xe mô tô biển số 65E1-606.83 từ Nguyễn Chế L thì sẽ tách thành vụ án khác để giải quyết cùng với việc xử lý hình vi của Nguyễn Chế L.
Về xử lý vật chứng:
Ghi nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Ô, thành phố Cần Thơ đã quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Satria F150 số máy: CG1622009, số khung: MH8DL11ANNJ121653 đã qua sử dụng (BL145).
Ghi nhận việc Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Ô, thành phố Cần Thơ chuyển tài liệu, vật chứng liên quan đến hành vi của Nguyễn Chế L đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, tỉnh Bến Tre.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Các quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, cơ quan truy tố, hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đảm bảo theo quy định của pháp luật.
[2] Về trách nhiệm hình sự: Do muốn có tiền tiêu xài cá nhân, Ngày 15 tháng 01 năm 2023, Nguyễn Quốc B và Trần Thanh N có hành vi lén lút lấy trộm tài sản của người khác có giá trị 27.333.000 đồng. Các bị cáo là người đã thành niên, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội cố ý trực tiếp, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Do đó, hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, nên cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân quận Ô Môn đối với bị cáo là có cơ sở.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:
Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Đối với bị cáo B: Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo B tỏ ra ăn năn, hối cải, thành khẩn khai báo, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, gia đình bị cáo tự nguyện nộp số tiền 2.500.000 đồng để khắc phục hậu quả, bị cáo cũng có ông nội là người có công với cách mạng, đồng thời bị hại cũng có xin xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên bị cáo B được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo diểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Đối với bị cáo N: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo tỏ ra ăn ăn, hối cải, thành khẩn khai báo, bị hại có xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên bị cáo N được hưởng tình tiết giảm nhẹ hình phạt theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Cả hai bị cáo là đồng phạm cùng có sự bàn bạc, cùng thực thực hiện hành vi phạm tội, nhưng bị cáo B có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự hơn bị cáo N, nên khi lượng hình và quyết định hình phạt đối với bị cáo B nhẹ hơn bị cáo N là phù hợp.
Riêng bị cáo Trần Thanh N bị xử phạt 05 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản và Cướp giật tài sản” theo Bản án số 66/2023/HSST ngày 18/9/2023 của Tòa án nhân dân quận Ô Môn, nên cần tổng hợp hình phạt với bản án này để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự.
Không áp dụng hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
Đối với Nguyễn Văn T1 trước khi N nhờ tìm nơi bán xe thì N không có nói cho T1 biết xe mô tô do N trộm cắp mà có. Ngoài ra T1 cũng không biết xe mô tô trên do N trộm cắp mà có, nên không xem xét xử lý là phù hợp.
Đối với Trần Quốc K và Lê Thị Tuyết M trước khi mua xe không biết xe mô tô biển số 65E1- 606.83 do N trộm cắp mà có, nên không xem xét xử lý là phù hợp.
Đối với Nguyễn Chế L thực hiện hành vi tiêu thụ tài sản và hành vi làm giả con dấu, giấy tờ của cơ quan, tổ chức tại địa bàn huyện B, tỉnh Bến Tre nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Ô, thành phố Cần Thơ chuyển hồ sơ, tài liệu có liên quan đến hành vi của L đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, tỉnh Bến Tre để tiếp nhận giải quyết theo thẩm quyền là phù hợp.
[4] Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại không có yêu cầu bồi thường thiệt hại, nên không xem xét giải quyết.
Đối với số tiền 10.000.000 đồng thu lợi bất chính của các bị cáo từ việc bán tài sản trộm được là xe mô tô biển số 65E1-606.83 để bán cho Nguyễn Chế L, nên buộc các bị cáo phải có nghĩa vụ hoàn trả cho Nguyễn Chế L số tiền 10.000.000 đồng (Gia đình bị cáo B đã tự nguyện giao nộp 2.500.000 đồng theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 23/01/2024; bị cáo N đồng ý giao nộp thêm số tiền 7.500.000 đồng nên ghi nhận)z. Riêng số tiền 30.000.000 đồng Trần Quốc K và bà Lê Thị Tuyết M mua chiếc xe mô tô biển số 65E1-606.83 từ Nguyễn Chế L thì sẽ tách thành vụ án khác để giải quyết cùng với việc xử lý hình vi của Nguyễn Chế L là phù hợp.
[5] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 luật tố tụng hình sự.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Ô, thành phố Cần Thơ đã quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Satria F150 số máy: CG1622009, số khung: MH8DL11ANNJ121653 đã qua sử dụng, nên ghi nhận.
(Theo Biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 10/12/2023).
Ghi nhận việc Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Ô, thành phố Cần Thơ chuyển tài liệu, vật chứng liên quan đến hành vi của Nguyễn Chế L đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, tỉnh Bến Tre (theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 04/8/2023).
[6] Về án phí Về án phí: Mỗi bị cáo phải nộp án phí hình sự 200.000 đồng, các bị cáo cùng chịu án phí dân sự sơ thẩm 500.000 đồng (10.000.000 đồng x5%) theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2006 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Quốc B và Trần Thanh N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc B 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
Thời hạn phạt tù tính từ ngày 21/11/2023.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 56 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Thanh N 02 (hai) năm tù.
Tổng hợp hình phạt 05 năm 06 tháng tù theo Bản án số 66/2023/HSST ngày 18/9/2023 của Tòa án nhân dân quận Ô Môn. Buộc bị cáo phải chấp hình phạt chung của 02 bản án là 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù.
Thời hạn phạt tù tính từ ngày 14/3/2023.
Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
Về trách nhiệm dân sư:
Bị hại không có yêu cầu bồi thường thiệt hại, nên không xem xét giải quyết.
Buộc các bị cáo phải có nghĩa vụ hoàn trả cho Nguyễn Chế L số tiền 10.000.000 đồng (Gia đình bị cáo B đã tự nguyện giao nộp 2.500.000 đồng theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 23/01/2024; nên bị cáo N phải giao nộp thêm số tiền 7.500.000 đồng). Riêng số tiền 30.000.000 đồng Trần Quốc K và bà Lê Thị Tuyết M mua chiếc xe mô tô biển số 65E1-606.83 từ Nguyễn Chế L thì sẽ tách thành vụ án khác để giải quyết cùng với việc xử lý hình vi của Nguyễn Chế L.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 luật tố tụng hình sự.
Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Ô, thành phố Cần Thơ đã quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Satria F150 số máy: CG1622009, số khung: MH8DL11ANNJ121653 đã qua sử dụng.
(Theo Biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 10/12/2023).
Ghi nhận việc Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Ô, thành phố Cần Thơ chuyển tài liệu, vật chứng liên quan đến hành vi của Nguyễn Chế L đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, tỉnh Bến Tre (theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 04/8/2023).
Về án phí: Áp dụng Điều 136 luật tố tụng hình sự Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2006 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm; các bị cáo cùng chịu 500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo; Bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiện tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi bổ sung một số điều Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Quốc Kiệt |
Bản án số 34/2024/HSST ngày 09/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 34/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xử phạt bị cáo Nhân 02 năm tù; bị cáo Nhân 01 năm 06 tháng tù
