|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THUẬN TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 34/2024/HNGĐ- ST Ngày: 08-5-2024 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH |
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THUẬN, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phượng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Thanh Nhàn
- Bà Quách Thị Thu Hương
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thuận tham gia phiên toà: Bà Võ Thị Tuyết Trang - Kiểm sát viên.
Trong ngày 08 tháng 5 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 15/2024/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 01 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con, cấp dưỡng nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 03 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 27/2024/QĐ-TA ngày 12/4/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lương Thị Cẩm L, sinh năm 1997; địa chỉ: ấp P, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang; có đơn xin vắng mặt
- Bị đơn: Anh Trần Văn Vũ H, sinh năm 1994; địa chỉ: ấp C, xã B, huyện V, tỉnh Kiên Giang; vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 18/01/2024 và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn chị Lương Thị Cẩm L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh H trên cở sở tự nguyện chung sống với nhau, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện V, tỉnh Kiên Giang. Vợ chồng chung sống đầm ấm được một thời gian thì phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm với nhau dẫn đến không có tiếng nói chung, thường xuyên cự cãi, bất hòa, mặc dù đã được hai bên hàn gắn nhưng không thành. Hiện vợ chồng anh chị đã sống ly thân với nhau. Xét thấy, vợ chồng không thể hàn gắn được với nhau, cuộc sống không hòa hợp, tình cảm vợ chồng không còn, làm cho hôn nhân làm vào tình trạng trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chị Lương Thị Cẩm L yêu cầu được ly hôn với anh Trần Văn Vũ H.
Về quan hệ con chung: Vợ chồng có 01 người con chung là Trần Thị Ngọc A, sinh ngày 16/8/2021, giới tính nữ (hiện con chung đang sống cùng chị L), chị L yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, trước đây tại đơn khởi kiện chị yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con hàng tháng là 2.000.000 đồng nhưng sau đó trong quá trình giải quyết vụ án chị L không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có tài sản chung, không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Trần Văn V Hão vắng mặt tại các phiên hòa giải và tại phiên tòa sơ thẩm nên không có lời trình bày.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, các đương sự đã thực hiện đúng và đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lương Thị Cẩm L đối với anh Trần Văn Vũ H. Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Trần Thị Ngọc A, sinh ngày 16/8/2021, giới tính nữ cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng. Anh H được quyền tới lui, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên đề nghị không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Lương Thị Cẩm L có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét vắng mặt chị L.
Bị đơn anh Trần Văn Vũ H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do chính đáng. Vì vậy, căn cứ Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt anh H.
[2] Về quan hệ tranh chấp: Chị Lương Thị Cẩm L yêu cầu xin ly hôn, giải quyết con chung với anh Trần Văn V Hão nên quan hệ tranh chấp được xác định là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị L và anh H trên cơ sở yêu thương nhau tự nguyện kết hôn và được cấp giấy chứng nhận kết hôn theo đúng quy định của pháp luật nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Quá trình chung sống do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cải dẫn đến mâu thuẫn kéo dài và không còn tình cảm mặc dù đã được hai bên hàn gắn nhưng không thành, hiện anh chị đã sống ly thân không còn quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ và cùng nhau chia sẽ, thực hiện các công việc trong gia đình được quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình. Vì vậy căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lương Thị Cẩm L.
[4] Về quan hệ con chung: Chị L và anh H có 01 con chung là Trần Thị Ngọc A, sinh ngày 16/8/2021, giới tính nữ (hiện con chung đang sống cùng chị L), chị L yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Qua xác minh, hiện cháu Ngọc A đang sống chung cùng chị L cuộc sống được đảm bảo, cháu Ngọc A chưa đủ 36 tháng tuổi. Vì vậy, xét về lợi ích mọi mặt và để đảm bảo cuộc sống cho cháu Ngọc A nên căn cứ Điều 81, Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình nên giao con chung là Trần Thị Ngọc A, sinh ngày 16/8/2021, giới tính nữ cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng, anh H không phải cấp dưỡng nuôi con do chị L không yêu cầu, anh H có quyền tới lui chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản.
[5] Về tài sản chung và nợ chung: Không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
[6] Về án phí xin ly hôn: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chị L phải chịu 300.000 đồng tiền án phí sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0005345 ngày 26/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thuận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Áp dụng Điều 19, Điều 56, Điều 81, Điều 82 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Lương Thị Cẩm L được ly hôn với anh Trần Văn Vũ H.
- Về con chung: Giao con chung là Trần Thị Ngọc A, sinh ngày 16/8/2021, giới tính nữ (hiện con chung đang sống cùng chị L) cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng, anh H không phải cấp dưỡng nuôi con, anh H có quyền tới lui chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu về tài sản chung, xác định không có nợ chung nên không xem xét.
- Về án phí sơ thẩm: Chị Lương Thị Cẩm L phải chịu 300.000 đồng tiền án phí sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0005345 ngày 26/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thuận.
- Đương sự chị L, anh H vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Phượng |
Bản án số 34/2024/HNGĐ- ST ngày 08/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THUẬN, TỈNH KIÊN GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 34/2024/HNGĐ- ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THUẬN, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lương Thị Cẩm Lình tranh chấp ly hôn, con chung với Trần Vũ Hảo
