Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do- Hạnh phúc

Bản án số: 34/2024/HS-ST

Ngày: 08 /5/2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hà

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Dương Viết Vĩnh

2. Ông Nguyễn Văn Hợi

Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Bích Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Quang Thành - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 5 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 24/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2024/QĐXXST- HS ngày 24 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: DƯƠNG VĂN LƯỢNG; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 28/02/1987; Giới tính: Nam.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm T, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ văn hóa: 12/12; Con ông: Dương Văn L (đã chết), con bà: Phạm Thị L1, sinh năm 1963; Gia đình bị cáo có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ 3; Có vợ: Chu Thị Đ, sinh năm 1989; Vợ chồng có 02 con chung, lớn sinh năm 2010; nhỏ sinh năm 2017.

Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân:

  • Ngày 13/12/2012 bị UBND huyện P ra Quyết định về việc áp dụng biện pháp đưa người nghiện ma túy vào Trung tâm chữa bệnh - Giáo dục - Lao động Xã hội của tỉnh Thái Nguyên trong thời hạn 12 tháng, tại Quyết định số 4030/QĐ -UBND ngày 13/12/2012. Ngày 18/12/2013 L2 chấp hành xong quyết định.
  • Ngày 13/12/2016 bị TAND huyện Phú Bình ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 18 tháng, tại Quyết định số 02/2016/QĐ – TA ngày 13/12/2016. Ngày 15/06/2018 L2 chấp hành xong quyết định.

Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/12/2023 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt tại phiên tòa.

* Người chứng kiến:

  1. Anh Nguyễn Hữu D, sinh năm 1992
    Trú tại: xóm Đồng Bốn, xã Tân Thành, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên
  2. Anh Đinh Văn T, sinh năm 1981
    Trú tại: xóm Đ, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên

(đều vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 21/12/2023, tổ công tác Công an xã T, huyện P đang làm nhiệm vụ tại khu vực xóm Đ, xã T thì phát hiện Dương Văn L3 có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Quá trình kiểm tra, L3 tự giác giao nộp 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng lấy ra từ túi áo khoác bên trái đang mặc. L3 khai nhận là ma túy Heroine, của L3 vừa mua để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng. sau đó bàn giao L3 cùng vật chứng cho Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện P điều tra, giải quyết theo thẩm quyền.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình phối hợp cùng Phòng K Công an tỉnh T tiến hành cân xác định khối lượng chất bột màu trắng trong bì thư niêm phong (kí hiệu A) có khối lượng là 0,131 gam. Lấy toàn bộ khối lượng chất bột màu trắng sau cân niêm phong (kí hiệu A1) gửi giám định tại Phòng K Công an tỉnh T.

Tại Bản kết luận giám định số 72 ngày 29/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Chất bột màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu A1 gửi đến giám định là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,131 gam.

Vật chứng của vụ án: 01 phong bì niêm phong (ký hiệu A1) bên trong có 0,125 gam mẫu A1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu A1 được bảo quản tại kho vật chứng Công an huyện P sau đó chuyển đến kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Bình chờ xử lý.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa Dương Văn L3 khai nhận: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 21/12/2023, L3 đi một mình từ nhà tới khu vực xã L, huyện P với mục đích mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Tại đây L3 gặp một người đàn ông lạ mặt và mua được của người này 01 túi ma túy Herone với giá 60.000 đồng sau đó cất vào túi áo khoác bên trái đang mặc rồi đi về khu vực xóm Đ, xã T với mục đích để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng. L3 khai nhận tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân, không nhằm mục đích gì khác.

Lời khai của Dương Văn L3 là có căn cứ, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, lời khai của người chứng kiến và những chứng cứ tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số 27/CT-VKSPB ngày 15 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên truy tố Dương Văn L3 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo.

Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Dương Văn L3 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo Dương Văn L3 từ 30 tháng đến 36 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong ký hiệu A1, bên trong có 0,125 gam mẫu A1 còn lại sáu giám định và vỏ bao gói mẫu A1.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của UBTVQH 14 buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Kết thúc phần tranh luận, Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện VKS. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo Dương Văn L3 thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa là khách quan, phù hợp với các lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để xác định: Hồi 10 giờ 30 phút, ngày 21 tháng 12 năm 2023, tại khu vực xóm Đ, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, bị cáo Dương Văn L3 đang có hành vi tàng trữ 0,131 gam ma túy loại heroine mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện bắt quả tang.

[3]. Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo L3 là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ chất ma túy là vi phạm pháp luật, song vẫn cố ý thực hiện nên hành vi, ý thức của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Viện kiểm sát nhân huyện P truy tố bị cáo về tội danh và điều luật viện dẫn tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Cụ thể nội dung Điều 249 BLHS có nội dung:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:...

c) Heroin, ....có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 5 gam....”

Hành vi của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy. Bị cáo biết việc bị cáo tàng trữ tài phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện, lỗi của bị cáo là lỗi cố ý trực tiếp. Việc Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4]. Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng, nhân thân của bị cáo thấy rằng:

Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi (H) là chất ma túy nằm trong Danh mục các chất ma túy tuyệt đối cấm sử dụng trong y học và đời sống xã hội. Hành vi của bị cáo xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về ma tuý, gây mất trật tự trị an, là nguồn gốc phát sinh nhiều loại tội phạm khác trong xã hội.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn ăn năn, hối cải nên được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được hưởng quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo L3 chưa có tiền án, tiền sự nhưng có nhân thân xấu, đã 02 lần bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng không chịu cai nghiện để trở thành người có ích cho xã hội.

[5]. Về hình phạt: Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo thì thấy rằng: Bị cáo có nhân thân xấu, khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người trưởng thành, nhận thức đầy đủ hành vi tàng trữ chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, hơn nữa để mang tính giáo dục và răn đe đối với người phạm tội, cần thiết xử hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo một thời gian nhất định thì mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm nói chung. Xét thấy mức án đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình đề nghị khi luận tội là có phần nghiêm khắc so với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành bị cáo đã thực hiện.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có công việc và thu nhập ổn định, không có tài sản gì để đảm bảo thi hành án do đó không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.

[6]. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với 01 bì niêm phong ký hiệu A1, bên trong có 0,125 gam mẫu A1 còn lại sáu giám định và vỏ bao gói mẫu A1 cần tịch thu tiêu hủy.

[7].Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

[8]. Về các vấn đề khác:

Về nguồn gốc số ma túy bị cáo khai mua của 01 người đàn ông không quen biết, không rõ tên, tuổi, địa chỉ tại xã L, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ của người này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P tiếp tục điều tra, xác minh có căn cứ sẽ xử lý sau là phù hợp.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Dương Văn L3 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của BLHS;

1. Xử phạt: Dương Văn L3 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 21/12/2023.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Áp dụng Điều 329 của BLTTHS: Hội đồng xét xử quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS;

Tịch thu tiêu hủy 01 bì thư niêm phong còn nguyên vẹn được dán kín, có dấu đỏ ký hiệu A1, bên ngoài bì thư có ghi hoàn trả 0,125 gam mẫu A1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu A1 vụ Dương Văn L3, sinh năm 1987 phạm tội về ma túy.

(Đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/3/2024 giữa Công an huyện P và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Bình)

3.Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết 326/2016/QH ngày 30/12/2016 quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Dương Văn L3 phải chịu 200.000 đồng án phí HSST sung ngân sách nhà nước.

Án xét xử sơ thẩm công khai. Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh TN;
  • - Tòa án tỉnh TN;
  • - VKS nhân dân huyện Phú Bình;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh TN
  • - Công an huyện Phú Bình;
  • - Sở Tư pháp tỉnh TN;
  • - Chi cục THA dân sự huyện Phú Bình;
  • - UBND nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Thu Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2024/HS-ST ngày 08/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy (criminal case)

  • Số bản án: 34/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger