Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do-Hạnh phúc

Bản án số: 34/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 07/5/2024

“V/v: Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thu Huệ.

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Được, ông Trịnh Văn Thành.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Nga – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thủy Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 5 năm 2024 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước, Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số: 387/2024/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2024/QĐXX-ST ngày 15 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Tuấn L, sinh năm 1960

- Bị đơn: Bà Trần Thị Hằng D, sinh năm 1985

Cùng trú tại: khu phố B, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. Các đương sự có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Tại đơn khởi kiện và bản tự khai ngày 21/12/2024 nguyên đơn ông Nguyễn Tuấn L trình bày:

Ông L và bà Trần Thị Hằng D tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân (UBND) phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước vào ngày 09/6/2020. Sau khi kết hôn chung sống không hạnh phúc, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng hay gây gổ, cãi vã lẫn nhau, mặc dù hai bên đã cố gắng hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 10/2022 cho đến nay. Nay ông L nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng không thể giải quyết được nữa, tình cảm của ông L đối với bà H không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà D.

Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Bảo N, sinh ngày 26/12/2015. Ông L yêu cầu giao con cho bà D nuôi, ông cấp dưỡng nuôi con là mỗi tháng 500.000đồng. Ngày 04/5/2024, ông L có bản khai bổ sung tự nguyện tăng mức cấp dưỡng nuôi con chung lên 1.000.000đồng/tháng cho đến khi con trưởng thành.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

*Tại bản tự khai bà Trần Thị Hằng D thống nhất toàn bộ như trình bày của ông L về quan hệ hôn nhân là tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định tại UBND phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. Quá trình chung sống không hạnh phúc và đã sống riêng từ 10/2022 đến nay. Bà D đồng ý ly hôn với ông L do mâu thuẫn trầm trọng, không thể hàn gắn.

Về con chung: Thống nhất có 01 con chung Nguyễn Bảo N, sinh ngày 26/12/2015, bà yêu cầu được nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con tự thỏa thuận.

Về tài sản chung và nợ chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng khác đã tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Tuấn L cho ông Nguyễn Tuấn L được ly hôn với bà Trần Thị Hằng D. Giao con chung tên Nguyễn Bảo N, sinh ngày 26/12/2015 cho bà Trần Thị Hằng D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông Nguyễn Tuấn L cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng vào ngày 26/12/2015 mỗi tháng 1.000.000đồng đến khi con chung đủ 18 tuổi. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Về án phí: Ông Nguyễn Tuấn L phải chịu 300.000đồng án phí hôn nhân gia đình và 300.000đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án: Xác định đây là vụ án “Ly hôn” do ông Nguyễn Tuấn L khởi kiện, bị đơn là bà Trần Thị Hằng D cư trú tại khu phố B, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 36 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.

[1.2] Về việc vắng mặt đương sự: Nguyên đơn và bị đơn có bản khai đầy đủ và có đơn xin xét xử vắng mặt hợp lệ. Căn cứ vào các Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vắng mặt đương sự theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Tuấn L và bà Trần Thị Hằng D tự nguyện chung sống với nhau và có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước, vào sổ đăng ký kết hôn số 26, ngày 09/6/2020. Căn cứ điều 8 và điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình xác định đây là hôn nhân hợp pháp, ông L có đơn khởi kiện xin ly hôn với bà D là đúng quy định của pháp luật.

Quá trình giải quyết vụ án ông L, bà D đều thống nhất trình bày: Sau khi kết hôn ông, bà chung sống không hạnh phúc, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng hay gây gổ, cãi vã lẫn nhau, ông, bà đã cố gắng hòa giải với nhau nhiều lần nhưng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn, vợ chồng không còn chung sống với nhau từ tháng 10/2022 cho đến nay. Nay ông, bà nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn, do không còn tình cảm, không còn yêu thương quan tâm lẫn nhau, do đó ông, bà đều thống nhất đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn.

Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa ông L và bà D đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể tiếp tục kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cả hai người đều thống nhất đề nghị giải quyết cho ly hôn. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của ông L, cho ông L được ly hôn với bà D.

[2.2] Về con chung: Ông L và bà D có 01 con chung là cháu Nguyễn Bảo N, sinh ngày 26/12/2015. Hai bên thống nhất giao con chung cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng; Tại bản tự khai ngày 27/3/2024 cháu N có nguyện vọng được ở với bà D. Căn cứ Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông L, giao cháu N cho bà D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

[2.3] Cấp dưỡng nuôi con: Tại đơn khởi kiện và bản tự khai ngày 21/12/2024 ông L có nguyện vọng cấp dưỡng nuôi con là 500.000đồng/tháng; ngày 04/5/2024 ông L thay đổi lời khai, tự nguyện cấp dưỡng nuôi con là 1.000.000đồng/tháng cho đến khi con trưởng thành. Tại bản tự khai bà D cho rằng tự thỏa thuận về cấp dưỡng nuôi con, Hội đồng xét xử xét thấy, tuy bà D không yêu cầu nhưng việc cấp dưỡng nuôi con là nghĩa vụ chung của người không trực tiếp nuôi con, ông L tự nguyện cấp dưỡng nuôi con nhằm đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp của cháu N, do đó cần ghi nhận sự tự nguyện cấp dưỡng nuôi con của ông L.

[2.4] Về tài sản chung; cho vay và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

[3] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài tại phiên tòa có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[4] Về án phí: Ông L phải chịu án phí ly hôn và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho ông Nguyễn T Lưu ly hôn với bà Trần Thị Hằng D.

(Giấy chứng nhận kết hôn số 26 ngày 09/6/2020 do Ủy ban nhân dân phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước cấp).

2. Về con chung: Giao con Nguyễn Bảo N, sinh ngày 26/12/2015 cho bà Trần Thị Hằng D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

Ông Nguyễn Tuấn L có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000đồng (Một triệu đồng). Thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 6/2024 đến khi con chung trưởng thành.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con chung, không ai có quyền cản trở người đó thực hiện quyền này. Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì lợi ích mọi mặt của con chưa thành niên, các bên đều có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con nếu có căn cứ cho rằng mình hoặc bên kia không đáp ứng được quyền lợi cho con.

3. Về tài sản chung, cho vay và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí:

- Án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm ông Nguyễn Tuấn L phải chịu 300.000đồng, được khấu vào trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đồng, theo Biên lai thu tiền số 0005543 ngày 19 tháng 12 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.

- Án phí cấp dưỡng nuôi con ông L phải nộp và 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng).

5. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án tại chính quyền địa phương nơi cư trú.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Phước.
  • - VKSND TP Đồng Xoài;
  • - CC THA DS TP ĐX;
  • - UBND nơi ĐKKH;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thu Huệ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2024/HNGĐ-ST ngày 07/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI TỈNH BÌNH PHƯỚC về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 34/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger