Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĂN YÊN

TỈNH YÊN BÁI

Bản án số: 34/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 06-8-2024

V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN YÊN, TỈNH YÊN BÁI.

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Chu Thị Thoảng

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Hà Thị Minh Quế
  2. Ông Vũ Mạnh Hùng

- Thư ký phiên toà: Bà Nghiêm Thị Vân Anh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Bích Ngọc – Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 84/2024/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2024 về việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 23/2024/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Anh Hoàng Văn H, sinh năm 1968
    Địa chỉ: Thôn Đ, xã X, huyện V, tỉnh Yên Bái (có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt).
  2. Bị đơn: Chị Đặng Thị T, sinh năm 1980
    Địa chỉ: Thôn Đ, xã X, huyện V, tỉnh Yên Bái (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ly hôn, biên bản lấy lời khai nguyên đơn anh Hoàng Văn H trình bầy: Tôi và chị Đặng Thị T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện. Đăng ký ngày 16/01/2004 tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện V, tỉnh Yên Bái. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến tháng 12/2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình vợ chồng không còn hòa hợp, quan điểm sống của vợ chồng bất đồng, từ đó dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng thường xuyên xảy ra. Chúng tôi đã sống ly thân nhau từ tháng 12/2018 cho đến nay không ai quan tâm đến ai cả. Nay tôi xác định tình cảm vợ chồng không còn gì nữa. Không thể tiếp tục sống chung với nhau được nữa. Đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn chị T.

Về con chung: Có 02 cháu: Cháu lớn đã trưởng thành tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết. Cháu thứ hai Hoàng Tố U sinh ngày 03/5/2008. Hiện nay cháu U đang ở cùng tôi. Khi ly hôn tôi nhận nuôi cháu U và không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con. Công việc của tôi hiện làm nông tại nhà thu nhập bình quân một tháng 7.000.000đồng đủ để nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh H đề nghị tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án. Tòa án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái đã nhiều lần báo gọi và gửi Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng chị T không có mặt theo các giấy tờ của Tòa án. Hiện nay hộ khẩu của chị T tại thôn Đ, xã X, huyện V, tỉnh Yên Bái. Tòa án đã tống đạt hợp lệ các giấy tờ của Tòa án cho chị T. Ông Trần Văn B là trưởng thôn Đ, xã X, huyện V đã trực tiếp nhận và thông báo cho chị T và gia đình chị T, chị T biết việc Tòa án báo gọi đến để giải quyết việc anh Hoàng Văn H xin ly hôn chị. Nhưng chị T không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án nên Tòa án không thể lấy lời khai và hòa giải theo quy định của pháp luật Tố tụng dân sự được.

Tại phiên toà sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái phát biểu ý kiến: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa. Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng thủ tục tố tụng dân sự, quyền và nghĩa vụ của các đương sự được đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho anh Hoàng Văn H được ly hôn chị Đặng Thị Tuyết.

Về con chung: Căn cứ Điều 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình xử giao cháu Hoàng Tố U sinh ngày 03/5/2008 cho anh Hoàng Văn H nuôi dưỡng. Chị Đặng Thị T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh H đề nghị tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Căn cứ khoản 4 điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Anh Hoàng Văn H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tranh chấp về Hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại khoản 1 điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc thụ lý và giải quyết đơn khởi kiện của Tòa án là đúng thẩm quyền được quy định tại điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Tòa án tiến hành xét xử vụ án là đúng quy định tại khoản 1 điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án đã triệu tập bị đơn hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt. Tòa án tiến hành xét xử vụ án là đúng quy định tại điểm b khoản 2 điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về tư cách người tham gia tố tụng: Tòa án đã xác định đúng tư cách của người tham gia tố tụng gồm nguyên đơn, bị đơn trong vụ án.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Anh Hoàng Văn H và chị Đặng Thị T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện V, tỉnh Yên Bái vào ngày 16 tháng 01 năm 2004 là hôn nhân hợp pháp. Anh H cho rằng sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến tháng 12/2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình vợ chồng không còn hòa hợp, quan điểm sống của vợ chồng bất đồng, từ đó dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng thường xuyên xảy ra. Anh H và chị T đã sống ly thân nhau từ tháng 12/2018 cho đến nay không ai quan tâm đến ai cả. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn. Anh H xin ly hôn chị T là có căn cứ.

Tại điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”.

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và phát biểu đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Đã xác định mâu thuẫn vợ chồng xảy ra dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn. Anh H và chị T hiện nay đã sống ly thân nhau không ai quan tâm đến ai nữa. Từ đó có căn cứ cho rằng tình trạng hôn nhân giữa anh H và chị T đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy cần áp dụng điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 để xử cho anh H được ly hôn chị T là có căn cứ.

[4] Về con chung: Có 02 cháu: Cháu lớn đã trưởng thành nên anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết. Cháu thứ hai: Hoàng Tố U sinh ngày 03/5/2008. Khi ly hôn anh H nhận nuôi cháu U và không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con. Để đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho cháu U được ổn định và theo nguyện vọng của cháu. Do vậy cần giao cháu U cho anh H nuôi dưỡng, anh H không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng nuôi con. Yêu cầu của anh H về nuôi con chung không trái với quy định tại điều 81; 82; 83 Luật hôn nhân gia đình. Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Anh H đề nghị tự thoả thuận không yêu cầu Toà án giải quyết.

[6] Về án phí: Căn cứ khoản 4 điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Anh Hoàng Văn H phải chịu án phí dân sự sơ thâm.

[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Phần đề nghị tại phiên tòa của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái là có căn cứ và phù hợp quy định pháp luật. Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Căn cứ khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Hoàng Văn H được ly hôn chị Đặng Thị T
  2. Về con chung: Xử giao cháu Hoàng Tố U sinh ngày 03/5/2008 cho anh Hoàng Văn H trực tiếp chăm nom, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu U đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi theo quy định pháp luật. Chị Đặng Thị T không phải cấp dưỡng nuôi con.

    Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm con không ai được ngăn cản.

  3. Về án phí: Anh Hoàng Văn H phải chịu 300.000đồng tiền án dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số: AA/2024/0000025 ngày 20 tháng 5 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Yên. Xác nhận anh Hoàng Văn H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Yên Bái;
  • - VKSND huyện Văn Yên;
  • - Chi cục THADS huyện Văn Yên;
  • - Các đương sự (2)
  • - UBND xã X.
  • - Lưu HS -TQĐ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Chu Thị Thoảng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2024/HNGĐ-ST ngày 06/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN YÊN, TỈNH YÊN BÁI về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 34/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN YÊN, TỈNH YÊN BÁI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Anh H ly hôn chị T do không còn tình cảm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger