Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẨM PHẢ

TỈNH QUẢNG NINH

———————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc

———————

Bản án số: 34/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 05 - 8 - 2024

V/v: “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Hoàng Văn Thái

Các hội thẩm nhân dân: 1.bà Lê Thị Thanh Thủy

2. bà Trịnh Thị Huệ

- Thư ký phiên tòa: bà Vũ Thị Loan - Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả tham gia phiên tòa: bà Phạm Thu Huyền - Kiểm sát viên

Trong ngày 05 tháng 8 năm 2024, tại phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 55/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 4 năm 2024, V/v: “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2024/QĐXX-HNGĐ ngày 02 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 23/2024/QÐST - HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: anh Nguyễn Đức T, sinh năm 1989; Nơi cư trú: tổ D, khu I, phường Q, thành phố C; Nghề nghiệp: công nhân công ty T1 – Vắng mặt tại phiên toà. (Có đơn xin xử án vắng mặt)

- Bị đơn: chị Trần Thị H, sinh năm 1987; Địa chỉ: tổ D, khu I, phường Q, thành phố C; Nghề nghiệp: lao động tự do – Vắng mặt tại phiên tòa lần 2 không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 01/4/2024 và bản tự khai tại hồ sơ vụ án, Nguyên đơn - anh Nguyễn Đức T trình bày: anh kết hôn với chị Trần Thị H vào ngày 28 tháng 7 năm 2020, có đăng ký kết hôn hợp pháp tại Ủy ban nhân dân phường Q, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có thời gian tìm hiểu khoảng một năm, trước khi kết hôn anh T chưa có vợ, chị H đã có chồng nhưng đã ly hôn. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị về chung sống tại nhà chồng tổ D khu I, phường Q, thành phố C, Quảng Ninh cho đến đầu năm 2022 thì sống ly thân. Anh và chị H chung sống hạnh phúc đến cuối năm 2021, đầu năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, trong cuộc sống hàng ngày vợ chồng không có sự bàn bạc, chia sẻ, chị H thiếu chung thủy với chồng, ham chơi, không quan tâm đến gia đình luôn đi qua đêm không nói rõ lý do, mặc dù anh có khuyên nhủ nhưng chị H vẫn không cải sửa, không quan tâm chăm sóc gia đình, không thay đổi tính cách, anh và chị H tuy sống chung một nhà nhưng đã sống ly thân từ đầu năm 2022. Khi ly thân, cả 2 không hòa giải được, gia đình hai bên cũng khuyên giải nhưng không có kết quả, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trong hơn. Cho đến nay tình cảm của anh T dành cho chị H không còn gì nữa và anh T yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với chị Trần Thị H.

Về con chung: anh Nguyễn Đức T và chị Trần Thị H có một con chung là Nguyễn Trọng Gia B, sinh ngày 17 tháng 11 năm 2020. Trong đơn khởi kiện ly hôn và bản tự khai anh T có nguyện vọng khi ly hôn anh đề nghị được nuôi con chung Nguyễn Trọng Gia B và không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con .

Về tài sản chung và vay nợ chung: không có nên không yêu cầu tòa án giải quyết.

Về án phí: anh T đề nghị được chịu toàn bộ án phí sơ thẩm.

* Đối với bị đơn – chị Trần Thị H: Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả đã triệu tập hợp lệ nhiều lần đến trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả để giải quyết yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Đức T đối với chị nhưng chị Trần Thị H đều vắng mặt không có lý do nên tòa án không tiến hành lấy khai và Hòa giải theo thủ tục tố tụng được.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: anh Nguyễn Đức T yêu cầu xin ly hôn với chị Trần Thị H hiện cư trú tại phường Q, thành phố C nên Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả thụ lý giải quyết với quan hệ pháp luật “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” là đúng quy định tại các Điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn là anh Nguyễn Đức T có đơn xin xử án vắng mặt; bị đơn chị Trần Thị H trong suốt quá trình giải quyết vụ án được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt không có lý do, sau khi ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả đã tống đạt hợp lệ cho chị H và Niêm yết công khai tại nơi cư trú nhưng chị H cố tình không tham gia tố tụng theo quy định và cũng không có người đại diện tham gia tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 227, Điều 228 và khoản 1 Điều 238 Bộ Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án: anh Nguyễn Đức T và chị Trần Thị H tự nguyện kết hôn vào ngày 28 tháng 7 năm 2020 và làm thủ tục đăng ký kết hôn hợp pháp tại Ủy ban nhân dân phường Q, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. Anh chị sống hạnh phúc một thời gian ngắn, cho đến khi chị H thường xuyên đi sớm về muộn, không quan tâm chăm sóc gia đình và có quan hệ với người đàn ông khác, mặc dù anh T đã góp ý khuyên nhủ nhưng chị H không thay đổi dẫn đến mâu thuẫn. Anh T và chị H đã sống ly thân từ đầu năm 2022 đến nay. Khi mâu thuẫn vợ chồng anh chị cũng được gia đình 2 bên đã hòa giải cho anh T và chị H nhưng anh T và chị H không hòa giải được. Do anh chị liên tục xảy ra mâu thuẫn trong thời gian dài, không chung sống và không quan tâm đến nhau nên khẳng định tình cảm giữa hai người không còn gì, anh T và chị H không quan tâm đến cuộc sống của nhau và không bàn bạc để tìm biện pháp hàn gắn mâu thuẫn. Bản thân chị H khi được triệu tập hợp lệ đến Tòa án để giải quyết vụ án cũng không đến để tham gia tố tụng, chứng tỏ chị H cũng không thiện chí hoặc trách nhiệm trong việc giải quyết mâu thuẫn, không có biện pháp tích cực để vợ chồng về đoàn tụ nên anh T khởi kiện ly hôn chị H là hoàn toàn có căn cứ. Mặt khác mâu thuẫn vợ chồng giữa anh T và chị H cũng phù hợp với kết quả thu thập chứng cứ của Tòa án về tình trạng hôn nhân của anh chị tại nơi cư trú. Vì vậy, căn cứ vào quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa anh T và chị H đã thực sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh T đối với chị H.

[3] Về con chung: anh Nguyễn Đức T và chị Trần Thị H có một con chung là Nguyễn Trọng Gia B, sinh ngày 17 tháng 11 năm 2020, hiện nay cháu đang ở cùng anh T. Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và đơn xin xử án vắng mặt anh T đều có nguyện vọng để anh tiếp tục nuôi con chung và không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng cho con chung. Đại diện khu phố nơi anh T và chị H cư trú cũng cho có ý kiến “đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, đảm bảo quyền, nghĩa vụ của các cháu”. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa chị H không chấp hành pháp luật, không đến Tòa án để tham gia tố tụng nên không có quan điểm về việc nuôi dưỡng con chung khi vợ chồng ly hôn. Xét thấy yêu cầu nuôi dưỡng con chung của anh T là chính đáng, anh T có công việc, có thu nhập ổn định và có sự giúp đỡ, hỗ trợ của gia đình nên đảm bảo được việc nuôi dưỡng con chung phát triển tốt. Căn cứ vào Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Hội đồng xét xử chấp nhận nguyện vọng của anh T và đồng ý giao cháu Nguyễn Trọng Gia B cho anh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi) là phù hợp và cũng như đảm bảo được các điều kiện cho sự phát triển cho con chung của anh chị. Chị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

[4] Về tài sản chung và vay nợ chung: không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập.

[5] Về án phí: anh Nguyễn Đức T phải nộp án phí theo quy định của pháp luật

[6] Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả có ý kiến cho rằng Việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm trước khi nghị án thấy rằng Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự. Việc thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ tranh chấp và tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng. Việc thu thập chứng cứ đầy đủ. Giao nhận tài liệu đúng theo trình tự pháp luật quy định; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về việc giải quyết vụ án: Căn cứ hồ sơ vụ án và các tài liệu chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét tại phiên tòa nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có cơ sở chấp nhận và đề nghị Hội đồng xét xử quyết định theo Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án quy định về án phí, lệ phí

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc xin ly hôn của anh Nguyễn Đức T đối với chị Trần Thị H. Anh T được ly hôn với chị Trần Thị H.
  2. Về nuôi con chung: giao con chung Nguyễn Trọng Gia B, sinh ngày 17/11/2020 cho anh Nguyễn Đức T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi). Chị Trần Thị H không phải cấp dưỡng cho con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
  3. Về án phí: anh Nguyễn Đức T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Số tiền này được trừ vào số tiền nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0002259 ngày 17 tháng 4 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả.

Án xử sơ thẩm, công khai vắng mặt cả hai bên đương sự, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Cẩm Phả;
  • - Đương sự;
  • - UBND phường Quang Hanh,
  • thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh;
  • - Chi cục THADS thành phố Cẩm Phả;
  • - Lưu VP, hồ sơ.

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Văn Thái

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2024/HNGĐ-ST ngày 05/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH về tranh chấp về hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 34/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đức T xin ly hôn Trần Thị H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger