Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NGHĨA ĐÀN
TỈNH NGHỆ AN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 34/2024/HSST
Ngày: 05/07/2024

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN - TỈNH NGHỆ AN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lương Anh Xuân.
  • - Các Hội thẩm nhân dân:
  • Ông Vi Văn Tiệp.
  • Ông Trần Xuân Huệ.
  • - Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Thanh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Hồ Diên Khoa - Kiểm sát viên.

Trong ngày 05 tháng 07 năm 2024 tại Hội trường Cơ sở cai nghiện số 1 tỉnh Nghệ An (Địa chỉ: xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An) xét xử sơ thẩm công khai lưu động vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 29/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Lê Anh T - Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam; Sinh ngày 05 tháng 10 năm 1983; Nơi cư trú: xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Viết B, Sinh năm:1956 và con bà: Nguyễn Thị B1, sinh năm 1956; Vợ: Nguyễn Thị G – sinh năm 1983 (Đã ly hôn); con: Chưa có; Tiền sự: Không; Tiền án: Có 01 tiền án: Ngày 27/4/2022, Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An xử phạt 12 tháng tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Hiện chưa được xóa án tích. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/6/2024 cho đến nay. Có mặt tại phiên toà.
  2. Hồ Sỹ N - Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam; Sinh ngày 23 tháng 9 năm 1994; Nơi cư trú: xóm P, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hồ Sỹ L, Sinh năm:1965 và con bà: Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1966; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/6/2024 cho đến nay. Có mặt tại phiên toà.
  • - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
  • Ông Lê Viết B - sinh năm 1956. (Có mặt).
  • Trú tại: xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An.
  • Anh Hồ Sỹ G1 - sinh năm 1989. (Có mặt).
  • Trú tại xóm P, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An.
  • - Người làm chứng: Anh Nguyễn Hồng H – sinh năm 1981. (Vắng mặt).
  • Trú tại xóm A, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Quá trình sử dụng chất ma túy thì Lê Anh T biết việc mua bán trái phép thu được lợi nhuận cao nên đã nảy sinh ý định mua bán trái phép chất ma túy để có tiền tiêu xài. Thời gian gần đây, T nghe một số con nghiện nói có một người đàn ông tên “T1”, khoảng 45 tuổi có bán chất ma tuý, dạng hồng phiến tại khu vực xã N, huyện N. Vào chiều ngày 07/6/2024, T điều khiển chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đen bạc, mang BKS 37G1-739.20 đi đến xã N, huyện N để tìm mua chất ma tuý thì gặp một người đàn ông khoảng 45 tuổi, dáng người gầy, cao khoảng 1,7m, mặc áo phông màu xanh, mặc quần đùi màu đen, đang đi bộ gần cầu K, xã N, huyện N nên T lại gần nói chuyện thì người này giới thiệu tên “T1”, T nghĩ đây là người đàn ông tên “Thảo” mà các con nghiện đã nói đến nên T hỏi: “Anh có hồng không, bán em ít?” (Nghĩa là hỏi có ma túy, dạng hồng phiến không, bán cho T ít?) thì T1 nói: “Lấy mấy con”? (Nghĩa là hỏi T mua mấy viên hồng phiến), T trả lời: “Bán cho em 11 con” (Nghĩa là bán cho T 11 viên hồng phiến) thì anh T1 nói: “11 viên thì một triệu ba” (Nghĩa là 11 viên hồng phiến có giá là một triệu ba trăm nghìn đồng) thì T đồng ý, rồi lấy số tiền 1.300.000đ (Một triệu ba trăm nghìn đồng), gồm 06 tờ tiền polyme mệnh giá 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) và 01 tờ tiền polyme mệnh giá 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) đưa cho T1 thì T1 cầm tiền và nói T đứng chờ. Khoảng 20 phút sau thì T1 đi bộ quay lại đưa cho T 01 gói giấy bạc, T mở ra thì thấy bên trong có 01 đoạn vòi hút bằng nhựa, màu cam chứa 11 (Mười một) viên ma tuý, dạng hồng phiến, sau đó T gói lại và đựng trong vỏ bao thuốc lá T2 rồi cất giấu trong túi áo phía trước bên phải và điều khiển chiếc xe máy nêu trên đi về nhà để khi nào có người hỏi mua thì T bán lại kiếm lời. Vào sáng ngày 08/6/2024, Hồ Sỹ N gọi từ số điện thoại 0789.412.xxx đến số điện thoại 0965.540.xxx của T hỏi: “Anh có hồng không? Bán cho em sáu trăm” (Ý hỏi hỏi T có ma túy, dạng hồng phiến không? Bán cho N sáu trăm nghìn đồng), T trả lời: “Sáu trăm thì được ba viên nha” (Ý nói T nói sáu trăm nghìn đồng thì N mua được 03 viên ma túy, dạng hồng phiến)

thì N đồng ý mua. T nói N chuyển tiền cho T trước và T nhắn tin số tài khoản ngân hàng T3 86868637373737 qua ứng dụng Zalo cho N. Khoảng 10 giờ 05 phút cùng ngày, N chuyển số tiền 600.000 đồng từ tài khoản ngân hàng M có số tài khoản 0789412365 của N đến tài khoản ngân hàng T3 có số tài khoản 86868637373737 của T và chụp, gửi ảnh về việc thông báo chuyển tiền thành công qua ứng dụng Zalo cho T. Sau đó, T xé 01 tờ giấy bạc ban đầu thành 03 tờ nhỏ và dùng kéo cắt 01 đoạn vòi hút bằng nhựa, màu cam ban đầu thành 04 đoạn nhỏ rồi lấy 03 viên hồng phiến đựng trong 01 đoạn vòi hút rồi dán kín hai đầu, gói lại trong 01 tờ giấy bạc để chuẩn bị đưa đi bán cho N; lấy 02 viên ma tuý hồng phiến đựng trong 01 đoạn vòi hút rồi dán kín hai đầu; lấy 05 viên hồng phiến đựng trong 01 đoạn vòi hút rồi dán kín hai đầu, gói lại trong 01 tờ giấy bạc và lấy 01 viên hồng phiến còn lại đựng trong 01 đoạn vòi hút rồi dán kín hai đầu, gói lại trong 01 tờ giấy bạc rồi cất giấu trong 01 vỏ bao thuốc lá T để trong túi áo đang mặc của T. Sau đó, T điều khiển chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đen bạc, mang BKS 37G1-739.20 cầm gói ma tuý để bán cho N đưa đến cất giấu tại cột mốc bên lề đường đối diện với đường rẽ vào khu vực Nghĩa địa xã N, huyện N. Khoảng 30 phút sau thì T điện thoại lại cho N nói đã có hàng (Ý nói đã có ma tuý hồng phiến) và nói N chạy lên khu vực Nghĩa địa gần Lèn đá ở xã N, huyện N để lấy ma tuý. Theo hướng dẫn của anh T thì N điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu xám trắng, mang BKS 37G1 - 925.08 đi đến khu vực L đá xã N để lấy ma tuý. Quá trình đi thì NT có liên lạc qua điện thoại với nhau, T nói lại với N là để gói ma tuý tại cột mốc bên lề đường đối diện với đường rẽ vào khu vực Nghĩa địa xã N, huyện N nên N đi đến vị trí này thì thấy dưới chân cột mốc này có 01 gói giấy bạc. Nguyên nghĩ bên trong là 03 viên ma túy, dạng hồng phiến mà T để ở đó nên đã cầm gói giấy bạc này mà không mở ra để kiểm tra rồi điểu khiển chiếc xe máy đi ra khu vực xã N, huyện N để tìm nơi sử dụng. Khoảng 11 giờ 00 phút cùng ngày, khi N đi đến khu vực chợ xã N, huyện N thì bị tổ công tác Công an huyện N yêu cầu dừng lại để kiểm tra, khi bị lực lượng Công an áp sát thì N đã thả gói giấy bạc từ trong lòng bàn tay xuống đường ngay tại vị trí bị kiểm tra. Tổ công tác đã mở gói giấy bạc ra kiểm tra thì thấy bên trong có 01 đoạn vòi hút bằng nhựa, màu cam chứa 03 viên nén, hình tròn màu hồng (Nghi là ma túy tổng hợp) nên đã thu giữ; đồng thời phát hiện, tạm giữ 01 chiếc điện thoại di dộng nhãn hiệu iPhone 8 Plus, màu vàng hồng, bên trong có gắn 01 chiếc sim Mobifone số thuê bao 0789.412.365 tại túi quần của N và chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu xám trắng, mang BKS 37G1 - 925.08 mà N điều khiển.

Khoảng 13 giờ cùng ngày, khi T đang điều khiển chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đen bạc, mang BKS 37G1-739.20 dừng trên đường thuộc xóm P,

xã N, huyện N thì bị Cơ quan CSĐT Công an huyện N thi hành Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp về hành vi Mua bán trái phép chất ma tuý, thu giữ trong túi áo của T 01 vỏ bao thuốc lá T, bên trong có 01 đoạn vòi hút bằng nhựa, màu cam chứa 02 viên nén, hình tròn màu hồng (Nghi là ma túy tổng hợp); 01 gói giấy bạc, bên trong có 01 đoạn vòi hút bằng nhựa, màu cam chứa 05 viên nén, hình tròn màu hồng (Nghi là ma túy tổng hợp) và 01 gói giấy bạc, bên trong có 01 đoạn vòi hút bằng nhựa, màu cam chứa 01 viên nén, hình tròn màu hồng (Nghi là ma túy tổng hợp); tạm giữ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY A04S màu đen, bên trong có gắn 01 sim chiếc Viettel số thuê bao 0965.540.xxx tại túi hông quần bên trái của T và chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đen bạc, mang BKS 37G1-739.20. Cùng ngày, tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của T tại xóm T, xã N, huyện N, tạm giữ 01 chiếc kéo sắt màu đỏ và 01 chiếc bật lửa màu đỏ, nhãn hiệu 555 VIP tại phòng ngủ của Lê Anh T (Đây là các công cụ mà T sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội).

Tại bản kết luận giám định số 656/KL-KTHS (Đ2-MT) ngày 16/6/2023 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận:

  • - Mẫu các viên nén, hình tròn màu hồng (Ký hiệu N1A) thu giữ của Hồ Sỹ N gửi giám định là ma túy (Methamphetamine), có tổng khối lượng là 0,27g (Không phẩy hai mươi bảy gam).
  • - 03 mẫu các viên nén, hình tròn màu hồng (Ký hiệu T1A, T2A, T3A) thu giữ của Lê Anh T gửi giám định đều là ma túy (Methamphetamine), có tổng khối lượng là 0,77g (Không phẩy bảy mươi bảy gam).

Như vậy, tổng khối lượng chất ma túy (Methamphetamine) của Lê Anh T mua về để bán là: 0,27g + 0,77g = 1,04g (Một phẩy không bốn gam).

Bản cáo trạng số 38/CT-VKSNgĐ ngày 24 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn đã truy tố bị cáo Lê Anh T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Hồ Sỹ N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 của Bộ luật hình sự.

Đối với người đàn ông tên “Thảo” đã bán số ma túy trên cho bị cáo Lê Anh T do chưa xác minh được danh tính, lai lịch nên không có cơ sở để xử lý.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viên kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo như bản cáo trạng đã kết luận. Đề nghị áp dụng khoản 1 điều 251; điểm s khoản 1, 2 điều 51, điểm h khoản 1 điều 52 và điều 38 - Bộ luật hình sự, mức hình phạt đối với bị cáo Lê Anh T từ 30 đến 36 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1, 2 điều 51, 38 - Bộ luật hình sự, mức hình phạt đối với bị cáo Hồ Sỹ N từ 15 đến 18 tháng tù về tội

“Tàng trữ trái phép chất ma túy”; miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho các bị cáo; về vật chứng đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau khi lấy mẫu đi giám định, 01 chiếc kéo sắt màu đỏ và 01 chiếc bật lửa màu đỏ, nhãn hiệu 555 VIP. Tịch thu bán hóa giá sung công quỹ Nhà nước hai điện thoại di động thu giữ của bị cáo; Truy thu số tiền thu lợi bất chính của bị cáo Lê Anh T là 600.000 đồng. Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận đúng như nội dung bản cáo trạng quy kết và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với vật chứng, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét khẩn cấp chỗ ở và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Đã xác định Lê Anh T biết được việc mua ma túy về bán lại cho các con nghiện là sẽ kiếm được lợi nhuận cao nên vào chiều ngày 07/06/2024, Lê Anh T đi đến khu vực xóm K, xã N, huyện N gặp một người thanh niên giới thiệu tên T1 và mua của người đàn ông này 11 viên ma tuý hồng phiến có trọng lượng 1,04 gam với giá 1.300.000 đồng đem về nhà cất dấu để bán kiếm lời. Vào sáng ngày 08/6/2024 Hồ Sỹ N lên cơn nghiện cần ma tuý sử dụng nên đã mua của T 03 viên ma tuý có trọng lượng 0,27 gam với giá 600.000 đồng. Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, trên đường đi tìm nơi sử dụng ma tuý đến khu vực chợ xã N, huyện N thì Hồ Sỹ N bị lực lượng công an kiểm tra và bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy (Methamphetamin) với tổng khối lượng là 0,27 gam (không phẩy hai mươi bảy gam), mục đích N mua ma tuý là để sử dụng thỏa mãn cho nhu cầu bản thân. Số ma tuý còn lại của Lê Anh T đang đưa đi bán thì bị công an bắt giữ. Như vậy, hành vi của bị cáo Lê Anh T thực hiện đã có đủ căn cứ để kết luận bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 điều 251 - Bộ luật hình sự. Hành vi thực hiện của bị cáo Hồ Sỹ N đã có đủ căn cứ để kết luận bị cáo phạm

tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 của Bộ luật hình sự. Đúng như bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố các bị cáo.

Hành vi phạm tội của các bị cáo không những đã xâm phạm đến chính sách quản lý Nhà nước về các chất ma túy mà còn ảnh hưởng lớn đến an ninh trật tự tại địa phương, do đó cần xét xử nghiêm để phòng ngừa chung.

[3] Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lê Anh T có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 của Bộ luật hình sự, Bị cáo T trong quá trình công tác làm bí thư đoàn phường Q được tặng giấy khen. Các bị cáo có bố, mẹ, ông bà là người có công với cách mạng đó là tình tiết giảm nhẹ khác được quy định tại khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy, cũng được xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo khi lượng hình.

[4] Về hình phạt: Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự trên cơ sở cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, kết hợp với việc xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Xét thấy bị cáo Lê Anh T là người đã từng bị xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” chưa được xoá án tích nhưng không lấy đó để làm bài học để cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội mà còn tiếp tực phạm tội thể hiện tính coi thường pháp luật. Đối với bị cáo N mặc dù mua ma túy về sử dụng nhưng với số lượng lớn. Do vậy, cần xử phạt các bị cáo ở mức án thật nghiêm khắc và áp dụng hình phạt tù, có thời hạn đối với các bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, mới có đủ điều kiện giáo dục các bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

Hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho các bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng: Cơ quan CSĐT Công an huyện N thu giữ: 01 gói ma túy của Hồ Sỹ N, 03 gói ma tuý của Lê Anh T và hai điện thoại di động, một cái kéo và 01 bật lửa. Số ma túy thu giữ của Hồ Sỹ NLê Anh T sau khi lấy mẫu gửi đi giám định, số ma túy còn lại là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, nay cần tịch thu tiêu hủy. Một cái kéo sắt và 01 bật lửa thu giữ của bị cáo T không còn giá trị sử dụng nay tịch thu tiêu huỷ. Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 8 Plus, màu vàng hồng, có số Imei: 356775089795683, bên trong có gắn 01 chiếc sim Mobifone có số thuê bao 0789.412.365, có số seri: 8401230213050912 thu của bị cáo N và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY A04S màu đen, có số Imei1: 350246951156467, số I: 353931241156461, bên trong có gắn 01 chiếc sim Viettel có số thuê bao: 0965.540.327, có số seri:

8984048000908083695 thu của bị cáo T là công cụ phương tiện các bị cáo dùng để liên lạc mua bán ma túy nên cần tịch thu bán hóa giá sung công quỹ Nhà nước. Truy thu số tiền thu lợi bất chính của bị cáo Lê Anh T là 600.000 đồng để sung công quỹ Nhà nước.

Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu xám trắng, mang BKS 37G1 - 925.08 mà Hồ Sỹ N sử dụng để làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội, sau khi tiến hành xác minh, xác định chiếc xe máy này là tài sản hợp pháp của anh Hồ Sỹ G1, nhưng anh G1 không biết việc N sử dụng chiếc xe máy này để đi mua ma túy về sử dụng. Cơ quan CSĐT Công an huyện N đã trả lại tài sản trên cho anh G1 là đúng quy định pháp luật.

Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đen bạc, mang BKS 37G1-739.20 mà Lê Anh T sử dụng để làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội, sau khi tiến hành xác minh, xác định chiếc xe máy này là tài sản hợp pháp của ông Lê Viết B nhưng ông B không biết việc T sẽ sử dụng chiếc xe máy này để đi mua ma túy về bán lại. Cơ quan CSĐT Công an huyện N đã trả lại tài sản trên cho ông B là đúng quy định pháp luật.

[6] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án hình sự sơ thẩm phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên!

QUYẾT ĐỊNH

  • - Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điểm h khoản 1 điều 52 và điều 38 - Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Lê Anh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Xử phạt: Bị cáo Lê Anh T 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 08/06/2024.
  • - Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 và điều 38 - Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Hồ Sỹ N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Xử phạt: Bị cáo Hồ Sỹ N 18 (Mười tám) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 08/06/2024.
  • - Về vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 điều 106 - Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau khi lấy mẫu đi giám định, đựng trong hai phong bì thư do Công an huyện N ấn hành được đóng dấu niêm phong thu giữ của bị cáo Hồ Sỹ NLê Anh T.
  • Tịch thu tiêu huỷ 01 cái kéo sắt màu đỏ và 01 chiếc bật lửa màu đỏ.
  • Tịch thu bán hóa giá sung công quỹ Nhà nước một 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 8 Plus, màu vàng hồng, có số Imei: 356775089795683, bên trong có gắn 01 chiếc sim Mobifone, có số seri: 8401230213050912 thu của bị cáo N và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY A04S màu đen, có số Imeil: 350246951156467, số I: 353931241156461, bên trong có gắn 01 chiếc sim Viettel, có số seri: 8984048000908083695 thu của bị cáo T. (Chi tiết được thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nghĩa Đàn).
  • Truy thu số tiền thu lợi bất chính của bị cáo Lê Anh T là 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng) để sung công quỹ Nhà nước.
  • - Về án phí: Áp dụng điều 136 - Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Lê Anh THồ Sỹ N mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  • Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo, người liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo; Người liên quan;
  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND huyện Nghĩa Đàn;
  • - Công an huyện Nghĩa Đàn;
  • - Chi cục THADS huyện Nghĩa Đàn;
  • - Thông báo cho UBND cấp xã nơi b/c cư trú biết;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Lương Anh Xuân

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2024/HSST ngày 05/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN - TỈNH NGHỆ AN về vụ án hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 34/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN - TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mua bán, tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger