Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LÀO CAI

TỈNH LÀO CAI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2024/HNGĐ-ST

Ngày 05/6/2024

V/v “Ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Hà Thị Anh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Hoàng Văn Ngân;
  2. Bà Vũ Thị Hòa;

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Chang – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lào Cai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Lĩnh – Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 80/2024/TLST-HNGĐ ngày 09/4/2024 về việc kiện “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20/5/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Lương Văn T - Sinh năm 1973

Địa chỉ: Tổ A, phường X, thành phố L, tỉnh Lào Cai (Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).

Bị đơn: Chị Vương Thi P – sinh năm 1976

Địa chỉ: Tổ A, phường X, thành phố L, tỉnh Lào Cai. (Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Lương Văn T trình bày: Anh và chị Vương Thị Phan v chung sống với nhau từ ngày 01/02/1997 trên cơ sở tự nguyện nhưng không có đăng ký kết hôn mà chỉ tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán. Sau khi về chung sống với nhau anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống và làm ăn kinh tế, vợ chồng không có tiếng nói chung, anh T thường phải đi làm ăn xa nhà, từ đó vợ chồng không tin tưởng nhau tình cảm vợ chồng ngày càng xa cách. Mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình, bạn bè hòa giải nhưng tình cảm vợ chồng không cải thiện được. Đến nay anh T xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho không công nhận vợ chồng giữa anh Tchị P.

2

Về con chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng anh chị có hai con chung là cháu Lương Thị T1 sinh năm 1997 và cháu Lương Hoàng V sinh năm 2002. Hiện các con chung đều đã trưởng thành, phát triển khỏe mạnh bình thường nên anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Anh Tuấn không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án và tại bản tự khai bị đơn chị Vương Thị P1 trình bày như sau: Chị Vương Thị P1 xác định anh chị chung sống với nhau từ ngày 01/02/1997 nhưng không có đăng ký kết hôn mà chỉ tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán. Về mâu thuẫn vợ chồng như anh T trình bày là đúng. Đến nay chị P1 nhất trí với ý kiến của anh T và đề nghị Tòa án giải quyết không công nhận vợ chồng cho anh chị theo quy định của pháp luật. Về con chung đều đã trưởng thành nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung, chị P1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án và tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt nguyên đơn anh Lương Văn T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của thẩm phán, hội đồng xét xử, những người tiến hành tố tụng đảm bảo đúng trình tự luật định, không vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử, chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đảm bảo. Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại điều 70, 71, 72 Bộ luật tố tụng Dân sự; Đề nghị Tòa án áp dụng Điều 9; khoản 1 điều 14; khoản 2 điều 53 Luật hôn nhân gia đình; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Lương Văn T, không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh Lương Văn Tchị Vương Thị Phan. Tuyên án phí và quyền kháng cáo cho nguyên đơn, bị đơn theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn nộp đầy đủ các chứng cứ theo quy định. Tranh chấp của vụ án là tranh chấp hôn nhân gia đình, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai theo khoản 3 điều 28; khoản 1 điều 35, khoản 1 điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Nguyên đơn anh Lương Văn T và bị đơn chị Vương Thị P1 vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227; Khoản 1 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt anh Lương Văn Tchị Vương Thị Phan.

[2]Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ lời khai của đương sự, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy: Anh Lương Văn Tchị Vương Thị Phan tự n về chung sống với nhau từ ngày 01/02/1997 và không có đăng ký kết hôn. Ủy ban nhân dân xã X, thành phố L nơi anh Tchị Phan cư t xác nhận từ ngày 01/03/2020 đến ngày 12/3/2024 anh Tchị P1 không có đăng ký kết hôn tại UBND xã. Tại các bản tự khai anh Tchị P1 đều khai trước khi sát nhập địa

3

giới hành chính vào tổ A, phường X thì anh chị có đăng ký hộ khẩu thưởng trú tại tổ A, phường B, thành phố L. Theo công văn số 149/UBND-TPHT ngày 14/5/2024 của UBND phường B, thành phố L thì anh Tchị P1 không có hồ sơ đăng ký kết hôn tại UBND phường. Đến nay anh chị vẫn chưa đăng ký kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân gia đình và hướng dẫn của nghị quyết 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000. Lời khai của nguyên đơn, bị đơn phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xác định hôn nhân giữa anh chị là hôn nhân không hợp pháp, không được pháp luật công nhận. Sau khi về chung sống vợ chồng anh chị sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống và làm ăn kinh tế, không có tiếng nói chung, không tin tưởng nhau, tình cảm vợ chồng dần xa cách. Đến nay, anh Tchị P1 đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh T đề nghị Toà án giải quyết không công nhận anh Tchị P1 là vợ chồng theo quy định của pháp luật. Do vậy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lương Văn T, không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh chị là phù hợp điều 9; khoản 1 điều 14; khoản 2 điều 53 Luật hôn nhân gia đình.

[3] Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng anh chị có hai con chung là cháu Lương Thị T1 sinh năm 1997 và cháu Lương Hoàng V sinh năm 2002. Hiện các con chung đều phát triển khỏe mạnh bình thường và đã đến tuổi trưởng thành nên anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[4] Về tài sản chung, công nợ chung: Anh T2, chị P1 đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: Anh Lương Văn T phải chịu tiền án phí ly hôn theo khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 9; khoản 1 điều 14; khoản 2 điều 53 Luật Hôn nhân Gia đình; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh Lương Văn Tchị Vương Thị P1
  2. Về án phí: Anh Lương Văn T phải chịu 300.000VNĐ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000VNĐ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000540 ngày 09/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Lào Cai, anh T đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
  3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị

4

cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lào Cai;
  • - VKSND TP Lào Cai (2);
  • - Các đương sự (2);
  • - Chi cục THADS TP Lào Cai;
  • - Lưu HS; Lưu TA;

TM - HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Hà Thị Anh

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thị Hòa

Hoàng Văn Ngân

Hà Thị Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2024/HNGĐ-ST ngày 05/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI về ly hôn

  • Số bản án: 34/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Anh T đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với chị P
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger