Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NĂM CĂN

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2024/DS-ST

Ngày: 04-6-2024

V/v “tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Đinh Thị Thùy Linh

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Phạm Hoàng Hân;

Bà Phan Thị Trang Phượng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Tú Hương là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Năm Căn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Năm Căn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 191/2023/TLST-DS ngày 22 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2024/QĐXXST-DS ngày 19 tháng 4 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 149/2024/QĐ-ST ngày 16 tháng 5 năm 2024, giữa:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ Phần K (gọi tắt là Ngân hàng).

Địa chỉ trụ sở: 40-42-44 P, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Huỳnh Văn Y; chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ khu vực – Ngân hàng TMCP Kiên Long PGD huyện K (xin vắng).

Địa chỉ: Khóm B, thị trấn N, huyện N, tỉnh Cà Mau.

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1982 và bà Tiết Bích T, sinh năm 1990 (vắng).

Đăng ký HKTT: Khóm G, thị trấn N, huyện N, tỉnh Cà Mau.

Nơi ở hiện nay: Ấp A, xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Người đại diện theo ủy quyền cho Ngân hàng trình bày:

Ông Nguyễn Văn C và bà Tiết Bích T ký kết với Ngân hàng TMCP Kiên Long PGD huyện K vay số tiền 110.000.000 đồng theo Hợp đồng hạn mức tín dụng số 107/20/HĐHM/2002-5952 ngày 24/02/2020 và Hợp đồng tín dụng từng lần số 106/21/HĐTD/2002-5952 ngày 23/02/2021, cụ thể: Số tiền vay là 110.000.000 đồng; mục đích: bổ sung vốn kinh doanh trại sản xuất tôm giống; thời hạn vay: 12 tháng; ngày giải ngân: 25/02/2021, ngày đến hạn: 25/02/2022. Lãi suất vay 12,9%/năm, được điều chỉnh 03 tháng/lần và được tính bằng lãi suất tiền gửi tiết kiệm kỳ hạn 12 tháng, lãi cuối kỳ do Ngân hàng công bố tại thời điểm thay đổi lãi suất vay cộng biên độ 3,8%/năm. Lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất vay tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Lãi suất chậm trả là 10%/năm. Hình thức thanh toán trả lãi hàng tháng, trả gốc cuối kỳ.

Hợp đồng nêu trên được bảo đảm bởi Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 107/20/HĐTC-BĐS/2002-5952 ngày 24/02/2020 được ký kết giữa Ngân hàng với ông Nguyễn Văn C và bà Tiết Bích T, được văn phòng C1 chứng nhận ngày 24/02/2020, tài sản thế chấp bảo đảm nợ vay là: Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CE 877254 được Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh C cấp ngày 05/4/2017 đứng tên Nguyễn Văn C và bà Tiết Bích T; thửa đất số 144; tờ bản đồ số 15; diện tích 85,5m² tọa lạc ấp A, xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau (có 22,5m² đất thuộc quy hoạch hạ tầng giao thông). Đăng ký thế chấp tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện N ngày 25/02/2020.

Quá trình vay, ông C và bà T trả được số tiền lãi là 15.873.035 đồng. Hợp đồng đã quá hạn thanh toán, Ngân hàng yêu cầu ông Nguyễn Văn C và bà Tiết Bích T liên đới thanh toán tổng số tiền tính đến ngày xét xử ngày 04/6/2024 là 156.827.000 đồng (nợ gốc: 110.000.000 đồng; lãi quá hạn: 46.827.000 đồng) và tiền lãi phát sinh trên dư nợ gốc từ ngày 05/6/2024 theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa Ngân hàng với ông Nguyễn Văn C cho đến khi thanh toán dứt nợ. Trường hợp ông C và bà T không trả hoặc trả không dứt nợ trong thời gian thỏa thuận thì yêu cầu kê biên phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ.

- Bị đơn ông Nguyễn Văn C và bà Tiết Bích T đã được Tòa án triệu tập trực tiếp, hợp lệ tham gia hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do và không có ý kiến phản đối với nội dung nguyên đơn khởi kiện.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng, kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nên không có kiến nghị.

Về nội dung vụ án: Đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc ông C và bà T liên đới thanh toán cho Ngân hàng TMCP K tổng số tiền tính đến ngày xét xử ngày 04/6/2024 là 156.827.000 đồng (nợ gốc: 110.000.000 đồng; lãi quá hạn: 46.827.000 đồng) và tiền lãi phát sinh trên dư nợ gốc từ ngày 05/6/2024 theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa Ngân hàng với ông Nguyễn Văn C cho đến khi thanh toán dứt nợ. Trường hợp ông C và bà T không trả hoặc trả không dứt nợ trong thời gian thỏa thuận thì yêu cầu kê biên phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Án phí bị đơn phải chịu theo quy định pháp luật, nguyên đơn có nộp tạm ứng án phí được nhận lại toàn bộ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn và bị đơn tranh chấp về nghĩa vụ trả nợ tiền trong hợp đồng tín dụng nên xác định lại quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Bị đơn có địa chỉ tại ấp A, xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Năm Căn theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ngân hàng TMCP K xin vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt.

Ông C và bà T vắng mặt, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông C và bà T liên đới trả nợ vay theo thỏa thuận tại Hợp đồng hạn mức tín dụng số 107/20/HĐHM/2002-5952 ngày 24/02/2020 và Hợp đồng tín dụng từng lần số 106/21/HĐTD/2002-5952 ngày 23/02/2021.

Xét, Hợp đồng hạn mức tín dụng số 107/20/HĐHM/2002-5952 ngày 24/02/2020 và Hợp đồng tín dụng từng lần số 106/21/HĐTD/2002-5952 ngày 23/02/2021 được ký kết trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận giữa các bên, hình thức và nội dung của Hợp đồng tín dụng phù hợp với quy định pháp luật nên phát sinh hiệu lực pháp lý; các bên đã thực hiện các giao kết của giấy đề nghị, theo đó Ngân hàng TMCP K đã giải ngân với tổng hạn mức 110.000.000 đồng cho ông C và bà T.

Hội đồng xét xử xét thấy, trong quá trình vay cho đến tháng 5/2024, ông C và bà T đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán đối với Ngân hàng. Do đó, Ngân hàng TMCP K khởi kiện yêu cầu ông C và bà T trả nợ là có căn cứ. Buộc ông Nguyễn Văn C và bà Tiết Bích T liên đới thanh toán cho Ngân hàng TMCP K tổng số tiền tính đến ngày xét xử ngày 04/6/2024 là 156.827.000 đồng (nợ gốc: 110.000.000 đồng; lãi quá hạn: 46.827.000 đồng) theo quy định tại Điều 463, Điều 466 của Bộ luật Dân sự, khoản 2 Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng.

“Ngoài khoản tiền nợ gốc, lãi vay trong hạn, lãi vay quá hạn, phí mà khách hàng vay phải thanh toán cho bên cho vay theo hợp đồng tín dụng tính đến ngày xét xử sơ thẩm, thì kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay”.

Trường hợp ông C và bà T không trả hoặc trả không dứt nợ trong thời gian thỏa thuận thì yêu cầu kê biên phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ là Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CE 877254 được Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh C cấp ngày 05/4/2017 đứng tên Nguyễn Văn C và bà Tiết Bích T; thửa đất số 144; tờ bản đồ số 15; diện tích 85,5m² tọa lạc ấp A, xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau (có 22,5m² đất thuộc quy hoạch hạ tầng giao thông). Đăng ký thế chấp tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện N ngày 25/02/2020.

[3] Chi phí thẩm định: 500.000 đồng ông C và bà T liên đới chịu. Ngân hàng TMCP K đã dự nộp nên ông C và bà T có trách nhiệm trả lại cho Ngân hàng TMCP K 500.000 đồng theo quy định.

[4] Về án phí: Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị đơn ông C và bà T phải chịu án phí 7.841.350 đồng. Hoàn trả cho nguyên đơn Ngân hàng số tiền 3.559.000 đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp tại Biên lai thu tiền số 0013766 ngày 22/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Năm Căn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điều 463, 466, 468 và 357 của Bộ luật dân sự; Điều 91 và Điều 95 của Luật tổ chức tín dụng; Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần K về việc khởi kiện ông Nguyễn Văn C và bà Tiết Bích T thanh toán tiền nợ hợp đồng tín dụng. Buộc ông Nguyễn Văn C và bà Tiết Bích T có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần K liên đới thanh toán cho Ngân hàng TMCP K tổng số tiền tính đến ngày xét xử ngày 04/6/2024 là 156.827.000 đồng (nợ gốc: 110.000.000 đồng; lãi quá hạn: 46.827.000 đồng).

“Ngoài khoản tiền nợ gốc, lãi vay trong hạn, lãi vay quá hạn, phí mà khách hàng vay phải thanh toán cho bên cho vay theo hợp đồng tín dụng tính đến ngày xét xử sơ thẩm, thì kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay”.

Trường hợp ông Nguyễn Văn C và bà Tiết Bích T không trả hoặc trả không dứt nợ trong thời gian thỏa thuận thì yêu cầu kê biên phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ là Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CE 877254 được Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh C cấp ngày 05/4/2017 đứng tên Nguyễn Văn C và bà Tiết Bích T; thửa đất số 144; tờ bản đồ số 15; diện tích 85,5m² tọa lạc ấp A, xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau (có 22,5m² đất thuộc quy hoạch hạ tầng giao thông). Đăng ký thế chấp tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện N ngày 25/02/2020.

- Ông Nguyễn Văn C và bà Tiết Bích T trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần K chi phí thẩm định số tiền là 500.000 đồng.

- Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:

Buộc ông Nguyễn Văn C và bà Tiết Bích T liên đới chịu án phí là 7.841.350 đồng, nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Năm Căn khi án có hiệu lực pháp luật.

Hoàn trả cho nguyên đơn Ngân hàng số tiền 3.559.000 đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp tại Biên lai thu tiền số 0013766 ngày 22/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Năm Căn.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự”.

Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự.
  • - VKSND huyện Năm Căn;
  • - Chi cục THADS huyện Năm Căn;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Thị Thùy Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2024/DS-ST ngày 04/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 34/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger