TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 34/2024/HNGĐ-ST Ngày: 02-5-2024 V/v: Ly hôn; tranh chấp nuôi con; chia tài sản khi ly hôn | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên tòa: Bà Lê Cẩm Hằng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Thắm;
Bà Nguyễn Kim Lý.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hiền – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 220/2024/TLST - HNGĐ ngày 12 tháng 3 năm 2024 về việc: “Ly hôn; tranh chấp nuôi con; chia tài sản khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/QĐXXST - HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc T, sinh năm 1995; địa chỉ: Số D, tổ A, ấp R, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Tấn Đ, sinh năm 1994; địa chỉ: Số C, đường P, tổ A, ấp B, xã P, thành phố B, tỉnh Bình Dương; chỗ ở hiện tại (không có đăng ký tạm trú): Số D, tổ A, ấp R, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương.
Các đương sự có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện đề ngày 29/02/2024, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc T trình bày:
Về hôn nhân: Bà và ông Đ chung sống từ năm 2017, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, thị xã (nay là thành phố ) B, tỉnh Bình Dương, theo Trích lục kết hôn số 01/TLKH-BS, đăng ký kết hôn ngày 02/01/2019, hôn nhân là tự nguyện. Trong thời gian chung sống do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, ông Đ không chăm lo cho gia đình nên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nay bà yêu cầu được ly hôn với ông Đ.
Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Tấn P, sinh ngày 16/01/2018 và Nguyễn Tấn Gia H, sinh ngày 28/4/2019. Hiện hai con đang sống cùng với bà và ông Đ tại địa chỉ số D, tổ A, ấp R, xã A, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Theo đơn khởi kiện, bà yêu cầu được yêu cầu nuôi 02 con chung và yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi 02 con chung mỗi tháng 5.000.000 đồng; quá trình tố tụng bà rút lại đối với yêu cầu cấp dưỡng, chỉ yêu cầu được nuôi 02 con chung.
Về tài sản chung: Bà và ông Đ có 01 xe ô tô hiệu MAZDA 3, biển kiểm soát số 61A72344 do ông Nguyễn Tấn Đ đứng tên, giá trị ước tính 300.000.000 đồng. Theo đơn khởi kiện, bà yêu cầu chia tài sản chung nêu trên theo quy định; quá trình tố tụng, bà rút lại, không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung.
Về nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình tố tụng, bị đơn ông Nguyễn Tấn Đ trình bày:
Về hôn nhân: Ông và bà T chung sống từ năm 2017, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, thị xã (nay là thành phố ) B, tỉnh Bình Dương, theo Trích lục kết hôn số 01/TLKH-BS, đăng ký kết hôn ngày 02/01/2019, hôn nhân là tự nguyện. Trong thời gian chung sống do bất đồng quan điểm, tính tình không hợp nhau nên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nay bà T yêu cầu được ly hôn với ông, ông đồng ý.
Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Tấn P, sinh ngày 16/01/2018 và Nguyễn Tấn Gia H, sinh ngày 28/4/2019. Hiện hai con đang sống cùng với ông và bà T tại địa chỉ số D, tổ A, ấp R, xã A, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Nay ông yêu cầu được nuôi con chung Nguyễn Tấn Gia H; còn con chung tên Nguyễn Tấn P giao cho bà T nuôi dưỡng; ông không yêu cầu cấp dưỡng và ông cũng không cấp dưỡng nuôi cháu P.
Về tài sản chung: Có 01 xe ô tô hiệu MAZDA 3, biển kiểm soát số 61A72344 do ông đứng tên, giá trị ước tính 300.000.000 đồng. Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung.
Về nợ chung: Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc T trình bày: Bà yêu cầu được ly hôn với ông Đ; yêu cầu được nuôi 02 con chung, không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng; tài sản chung, nợ chung không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn ông Nguyễn Tấn Đ trình bày: Ông thống nhất đối với yêu cầu của bà T về hôn nhân, tài sản chung và nợ chung; riêng về con chung, ông không đồng ý, ông yêu cầu được nuôi con chung Nguyễn Tấn Gia H; còn con chung tên Nguyễn Tấn P giao cho bà T nuôi dưỡng.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
- Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử, xét thấy:
[1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc T đối với bị đơn ông Nguyễn Tấn Đ:
1.1 Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Ngọc T và ông Nguyễn Tấn Đ chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, thị xã (nay là thành phố ) B, tỉnh Bình Dương, theo Trích lục kết hôn số 01/TLKH-BS, đăng ký kết hôn ngày 02/01/2019, hôn nhân là hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Nay bà T yêu cầu được ly hôn với ông Đ, ông Đ đồng ý. Điều này cho thấy mâu thuẫn giữa bà T và ông Đ đã tới mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần cho bà T được ly hôn với ông Đ.
1.2 Về con chung: Bà T và ông Đ có 02 con chung tên Nguyễn Tấn P, sinh ngày 16/01/2018 và Nguyễn Tấn Gia H, sinh ngày 28/4/2019. Hiện hai cháu đang sống cùng với ông Đ và bà T tại địa chỉ số D, tổ A, ấp R, xã A, T (nay là thành phố ) B, tỉnh Bình Dương. Nay bà T yêu cầu được nuôi 02 con, không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng; ông Đ có nguyện vọng được nuôi cháu Nguyễn Tấn Gia H; còn cháu Nguyễn Tấn P giao cho bà T nuôi dưỡng.
Xét lời khai của bà T, ông Đ và tài liệu, chứng cứ bà T, ông Đ cung cấp trong quá trình tố tụng, thể hiện: Bà T hiện ở nhà nội trợ, quản lý nhà trọ và có nhận hàng gia công về làm tại nhà; còn ông Đ hiện kinh doanh thu mua phế liệu tự do và là đội viên trong Đội dân phòng xã P, thành phố B, Bình Dương, cả hai đều có việc làm ổn định. Tuy nhiên, trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, bị đơn ông Đ xác nhận trường hợp sau khi ly hôn và được giao con thì ông và con sẽ về sinh sống tại nhà riêng của ông ở số C, đường P, tổ A, ấp B, xã P, thành phố B, tỉnh Bình Dương, trong khi đó 02 con chung còn nhỏ tuổi, từ nhỏ chung sống cùng với nhau và hiện học cùng trường gần nơi ở, bà T là người trực tiếp đưa, đón, chăm sóc các cháu hàng ngày, bà T lao động tự do tại nhà, còn ông Đ lịch công tác có sự luân phiên, nên việc giao con cho bà T, ông Đ mỗi người nuôi một cháu sẽ ảnh hưởng đến tâm lý, lịch sinh hoạt, lịch học của các cháu. Do đó, xét thấy cần giao 02 con chung Nguyễn Tấn P và Nguyễn Tấn Gia H cho bà T nuôi dưỡng, ghi nhận bà T không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng.
1.3 Về tài sản chung: Bà T, ông Đ khai có 01 xe ô tô hiệu MAZDA 3, biển kiểm soát số 61A72344 do ông Đ đứng tên. Theo đơn khởi kiện, bà T yêu cầu chia tài sản chung nêu trên theo quy định; quá trình tố tụng và tại phiên tòa, bà T rút lại, không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung, nên cần đình chỉ xét xử đối với yêu cầu này của bà T và Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết đối với tài sản chung nêu trên của bà T, ông Đ.
1.4 Về nợ chung: Bà T, ông Đ không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
[2] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà T phải chịu theo quy định của pháp luật.
[3] Xét ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa: Đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - Các Điều 9, 56, khoản 1 Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 144, 147; khoản 1 Điều 228, 266, 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc T đối với bị đơn ông Nguyễn Tấn Đ về việc: “Ly hôn; tranh chấp nuôi con; chia tài sản khi ly hôn”.
- - Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Ngọc T được ly hôn với ông Nguyễn Tấn Đ.
- - Về con chung:
Giao 02 con chung tên Nguyễn Tấn P, sinh ngày 16/01/2018 và Nguyễn Tấn Gia H, sinh ngày 28/4/2019 cho bà Nguyễn Thị Ngọc T trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Ghi nhận bà Nguyễn Thị Ngọc T không yêu cầu ông Nguyễn Tấn Đ cấp dưỡng nuôi con chung.
Ông Nguyễn Tấn Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở.
- - Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị Ngọc T, ông Nguyễn Tấn Đ không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
- Đình chỉ xét xử yêu cầu chia tài sản chung khi ly hôn và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc T đối với bị đơn ông Nguyễn Tấn Đ.
- Về án phí:
Bà Nguyễn Thị Ngọc T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm và được trừ vào số tiền 4.050.000 (bốn triệu, không trăm năm mươi nghìn) đồng tạm ứng án phí bà Nguyễn Thị Ngọc T đã nộp theo Biên lai thu kí hiệu BLTU/24, số 000717 ngày 07 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã (nay là thành phố ) B, tỉnh Bình Dương. Hoàn trả lại cho bà Nguyễn Thị Ngọc T số tiền 3.750.000 (ba triệu, bảy trăm năm mươi nghìn) đồng.
- Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Ngọc T, ông Nguyễn Tấn Đ có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Bình Dương - VKSND thành phố Bến Cát; - Chi cục THADS thành phố Bến Cát; - Lưu: HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Cẩm Hằng |
Bản án số 34/2024/HNGĐ-ST ngày 02/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn; tranh chấp nuôi con; chia tài sản khi ly hôn
- Số bản án: 34/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn; tranh chấp nuôi con; chia tài sản khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
