Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KẾ SÁCH
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2024/HS-ST

Ngày: 27 - 5 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KÉ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nhẫn

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Sơn

2. Ông Cao Văn Quyến

- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Hồng Trang, là thư ký Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Bùi Mỹ Tiên - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 24/2024/HS-ST, ngày 29 tháng 3 năm 2024 (theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2024/QĐXXST-HS, ngày 09/5/2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Kim Văn T, sinh ngày 22/9/2000, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng; nơi cư trú: ấp T, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa (học vấn): 5/12; dân tộc: Khmer; giới tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Kim Lợi con bà Triệu Xà V; bị cáo chưa có vợ con; tiền án; không; tiền sự: Có 01 tiền sự: về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, bị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma tuý tỉnh Sóc Trăng theo Quyết định số: 60/QĐ-TA ngày 10/11/2023 của Toà án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng. Bị cáo Kim Văn T bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt bị can tạm giam từ ngày 14/01/2024 cho đến nay, (bị cáo có mặt).

- Người bị hại:

  1. Ông Huỳnh Thanh S, sinh ngày 01/01/1964; Nơi cư trú: ấp M, xã Đ, huyện K, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
  2. Ông Trần Văn B, sinh ngày 01/01/1977; Nơi cư trú: ấp M, xã Đ, huyện K, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
  3. Ông Trương Hoàng T1, sinh ngày 10/4/1985; Nơi cư trú: ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Hậu Giang (vắng mặt)

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Thân Vũ L; sinh ngày: 30/11/2007; nơi cư trú: ấp E, xã B, huyện K, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
  2. Ông Kim Văn C; sinh ngày 22/9/2000; nơi cư trú: ấp T, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
  3. Ông Phạm Đức T2, sinh ngày 20/3/1987 ; nơi cư trú: ấp B, xã Đ, huyện K, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
  4. Ông Huỳnh Thanh T3, sinh ngày 13/12/1984; Nơi cư trú: ấp A, xã K, huyện K, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
  5. Ông Trương Văn T4, sinh ngày 28/10/1975; Nơi cư trú: ấp C, thị trấn M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
  6. Ông Thân Văn S1, sinh nhày 01/01/1975 (cũng là người đại diện hợp pháp cho Thân Vũ L) ; nơi cư trú: ấp E, xã B, huyện K, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).

- Người đại diện hợp pháp cho Thân Vũ L: Bà Dương Thị B1, sinh ngày 01/01/1976; nơi cư trú: ấp E, xã B, huyện K, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vụ thứ nhất: Khoảng 19 giờ ngày 06/10/2023, Kim Văn T cùng Thân Vũ L đang ở nhà trọ của T thuộc ấp B, xã Đ, huyện K, tỉnh Sóc Trăng thì cả hai bàn bạc và thống nhất đi tìm tài sản trộm cắp để bán lấy tiền tiêu xài. Lúc đi T điều khiển xe Sirius màu đen biển số 83CA-042.51 của L chở Luân lưu thông trên tuyến Quốc lộ A hướng từ cầu B đi thành phố S. Khi đi đến đoạn chợ C3 thì L phát hiện chiếc xe Wave màu đen, biển số 54V5-0781 của ông Trần Văn B, sinh năm 1977 ở ấp M, xã Đ, huyện K, tỉnh Sóc Trăng, đang dựng phía trước nhà cặp Quốc lộ A thuộc ấp Đ, xã Đ, huyện K, tỉnh Sóc Trăng không có người trông coi, lúc này L chỉ chiếc xe cho T thấy, thì T biết là lấy trộm chiếc xe Luân vừa chỉ. Triệu điều khiển xe đi một đoạn đến dãy phân cách thì quay đầu xe chạy ngược lại chỗ chiếc xe biển số 54V5-0781 rồi Triệu dừng xe cặp lộ, sau đó L ngồi trên xe canh đường, còn T bước xuống xe đi đến chỗ chiếc xe và phát hiện xe không có chìa khóa, T lùi xe lại và dẫn ra lộ đi về hướng Cầu B, T dắt một đoạn thì T dừng lại dùng tay bức dây điện và T lên xe 54V5-0781 nổ máy chạy đi. Lúc này L điều khiển xe biển số 83CA-042.51 của L đi trước còn T điều khiển xe vừa trộm được chạy sau, chạy được một đoạn thì T kêu L chạy xe về nhà trọ, còn T một mình chạy xe trộm được đi bán tại tiệm sửa xe và cầm đồ của ông Trương Văn N, sinh năm 1977, ở ấp T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Sóc Trăng bán xe được 800.000 đồng. Sau đó T đi xe ôm về nhà trọ của T rồi lấy xe biển số 83CA-042.51 chở L đến quán S2 cặp quốc lộ A thuộc ấp C, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng để mua ma túy về tổ chức cho L, T và C sử dụng. Khi đến nơi L ngồi ngoài xe đợi, còn T một mình đi vào trong quán gặp một nam thanh niên tên C1 (không rõ họ, địa chỉ) hỏi mua 600.000 đồng ma túy đá, sau khi mua được ma túy T chở L về nhà trọ của T, T đi vào nhà bếp lấy ra bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm nỏ thủy tinh, bình, ống hút để sử dụng ma túy. Lúc này trong nhà trọ có T, L và Kim Văn C (anh sinh đôi của T), thì T lấy gói ma túy trong túi quần ra rồi dùng kéo cắt gối ma túy đổ vào nỏ thủy tinh, T dùng hột quẹt gas đốt lên cho ma túy tang chảy thành khói, Triệu hút trước rồi đưa cho L và C hút xoay vòng đến khi hết ma túy trong nỏ thì nghỉ, số tiền bán xe do trộm còn lại T và L đã tiêu xài cá nhân hết.

Vụ thứ hai: Khoảng 16 giờ ngày 10/10/2023, Kim Văn T và Thân Vũ L đang ở nhà trọ của Triệu thuộc ấp B, xã Đ thì T và L bàn bạc và thống nhất tìm tài sản để lấy trộm để bán lấy tiền tiêu xài. Triệu điều khiển xe Sirius màu đen biển số 83CA-042.51 của L chở Luân lưu thông từ ấp B, xã Đ, huyện K, tỉnh Sóc Trăng đi theo hướng lên thành phố N, tỉnh Hậu Giang để tìm tài sản lấy trộm, khi đến đoạn đường tỉnh lộ 927C thuộc ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Hậu Giang Triệu và L phát hiện trước sân cửa hàng bán đồ vật liệu xây dựng H có 01 chiếc xe honda hiệu Wave RSX biển số 95E1-975.97 của ông Trương Hoàng T1 sinh ngày 10/4/1985 ở ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Hậu Giang đang đậu không có người trông coi, nên T điều khiển xe quay lại chạy chỗ chiếc xe 95E1-975.97 đang đậu thì phát hiện trên xe có chìa khóa sẵn, nên vừa chạy qua chiếc xe thì dừng lại. Triệu xuống xe đi đến chỗ chiếc xe 95E1-975.97, sau đó T lên xe mở chìa khóa và chạy đi về hướng thành phố S. Trong lúc chạy xe 95E1-975.97 đi thì T kêu L điều khiển xe của L đi về nhà trọ, còn T điều khiển xe vừa trộm được đến tiệm bắn cá chỗ gần chùa D thành phố S, T vào tiệm gặp một người nam thanh niên tên K (không xác định họ, địa chỉ) khoảng hơn 30 tuổi rồi bán xe biển số 95E1-975.97 cho K được 2.000.000 đồng. Sau khi bán xe Triệu gặp một người thanh niên trong tiệm bắn cá gần chùa D mua 01 gói ma túy 300.000 đồng loại ma túy đá bỏ vào túi quần rồi T mượn điện thoại đăng nhập vào Facebook và điện cho L chạy đến chỗ chùa D rước T. Triệu ngồi đợi một lúc thì L chạy chiếc xe 83CA-042.51 đến rước Triệu về nhà trọ của T. Khi về đến phòng trọ thì lúc này có T, L và C, T đi vào nhà bếp lấy ra bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm nỏ thủy tinh, bình, ống hút để sử dụng ma túy đem ra, T lấy gói ma túy vừa mua dùng kéo cắt rồi đổ vào nỏ thủy tinh, dùng hột quẹt gas đốt cho ma túy tang chảy thành khói, Triệu hút trước rồi đến L và C mỗi người hút xoay vòng đến khi hết ma túy trong nỏ thì nghỉ, còn số tiền bán xe trộm được còn lại Triệu trả tiền nợ và chuộc điện thoại, còn lại T và L đã tiêu xài cá nhân hết.

Vụ thứ ba: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 12/10/2023, Kim Văn T và Thân Vũ L đang ở nhà trọ của Triệu thuộc ấp B, xã Đ thì L than là không có tiền nên T và L bàn bạc đi tìm tài sản để lấy trộm thì L đồng ý. Sau đó T điều khiển xe biển số 83CA-042.51 của L, chở L đi từ nhà trọ của T đến chợ M Cá để tìm tài sản lấy trộm, khi đi qua nhà thờ T8 thuộc ấp M, xã Đ, huyện K, tỉnh Sóc Trăng thì phát hiện có chiếc xe Wave RSX biển số 83C1-062.04 của ông Huỳnh Thanh S, sinh ngày 01/01/1964 ở ấp M, xã Đ, huyện K, tỉnh Sóc Trăng đang đậu trong sân nhà, không có người trông coi. T điều khiển xe chạy qua chiếc xe 83C1-062.04, sau đó dừng xe lại, L xuống xe và đi đến chỗ chiếc xe 83C1-062.04 thì L phát hiện xe có sẵn chìa khóa, nên dẫn xe ra ngoài đề máy rồi điều khiển xe chạy về hướng chợ M Cá. T điều khiển xe của L chạy phía sau, T và L điều khiển xe tới chợ Mang Cá thì quẹo phải chạy ra Quốc lộ A, trên đường đi thì T và L dừng xe lại để T điều khiển xe 83C1-062.04 vừa trộm được đi thành phố S bán, còn L điều khiển xe của L chạy về nhà trọ rước C đi đến thành phố S chỗ T và L đã hẹn trước. Sau đó T điều khiển xe 83C1-062.04 tới chỗ tiệm game bắn cá gần chỗ bán xe tải (không nhớ địa chỉ), T bán xe cho một người thanh niên khoảng 30 tuổi (không rõ họ tên địa chỉ) được số tiền 1.000.000 đồng, sau khi bán xe xong thì L và C đi đến. L điều khiển xe chở C đi về nhà trọ, rồi L quay lại rước T, T và L đi đến tiệm game bắn cá (không rõ địa chỉ) ở thành phố S, L ngồi ngoài xe đợi còn T đi vào trong gặp một người thanh niên (không rõ họ tên địa chỉ) mua 750.000 đồng ma túy, loại ma túy đá. Sau khi mua xong thì T bỏ ma túy vừa mua được vào túi quần rồi lên xe cho L chở về nhà trọ của T, khi về đến nhà trọ thì C đang ngủ. Lúc này T đi vào nhà bếp lấy ra bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm nỏ thủy tinh, bình, ống hút để sử dụng ma túy đem ra, T lấy gói ma túy vừa mua dùng kéo cắt rồi đổ vào nỏ thủy tinh, rồi dùng hột quẹt gas đốt cho tang chảy thành khói, Triệu hút trước rồi đưa cho L hút, trong lúc đang hút ma túy thì C thức dậy và vào hút cùng với L và T, cả 03 người hút xoay vòng đến khi hết ma túy trong nỏ thì nghỉ, còn số tiền bán xe trộm được còn lại T và L tiêu xài cá nhân còn lại số tiền 165.200 đồng.

Trong quá trình điều tra Kim Văn T và Thân Vũ L thừa nhận toàn bộ hành vi cùng nhau trộm cắp tài sản của người khác 03 lần để bán lấy tiền mua ma túy tổ chức cho T, L và C cùng nhau sử dụng 03 lần vào ngày 06/10/2023, 10/10/2023 và 12/10/2023.

Tại Bản kết luận định giá số 34 ngày 27/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện K kết luận tài sản của Trần Văn B:

Một loại xe 02 bánh từ 50 – 175cm3, số loại C110 màu xanh xám đen, Biển số 54V5 – 0781; Số khung RNRWCH1UM91102767; Số máy: RNRHA152FMH102767 xe đăng ký mới ngày 16/01/2012; Bị hại khai mua cũ vào tháng 10/2022 với giá 2.300.000 đồng, giá trị còn lại Quyết định 20/QĐ-BTC, ngày 09/4/2019 của Bộ T9 là 20%, 15.000.000 đồng x 20% = 3.000.000 đồng

Tại Bản kết luận định giá số 35 ngày 30/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện K kết luận tài sản của Huỳnh Thanh S:

Một loại xe 02 bánh từ 50 -175cm3 số loại xe Wave RSX màu đen- xanh- đỏ, biển số 83C1 – 062.04 số khung JC43E6401680, số máy RLHJC4328BY458387 xe đăng ký mới ngày 16/01/2012, giá trị còn lại Quyết định 20/QĐ-BTC ngày 09/4/2019 của Bộ T9 là 20%. 17.500.000 đồng x 20%= 3.500.000 đồng.

Tại Bản kết luận định giá số 46 ngày 23/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện C, tỉnh Hậu Giang kết luận tài sản của Trương Hoàng T1:

01 xe mô tô nhãn hiệu honda, loại Wave RSX, màu sơn xanh đen, biển số kiểm soát 95E1-975.97; số khung RLHJA385XNY110713; số máy JA52E0374308, giá trị tài sản vào thời điểm định giá ngày 10/10/2023 là: 18.000.000 đ (Mười tám triệu đồng).

Như vậy, tổng số tiền mà Kim Văn T và Thân Vũ L trộm cắp tài sản của Trần Văn B, Huỳnh Thanh S và Trương Hoàng T1 là: 24.500.000 đồng (Hai mươi bốn triệu năm trăm ngàn đồng). Ngoài ra trong 03 ngày 06/10/2023, 10/10/2023 và 12/10/2023 tại nhà trọ của T ở ấp B, xã Đ, huyện K, tỉnh Sóc Trăng, Kim Văn T đã cung cấp ma túy và bộ D1 sử dụng ma túy để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy 03 lần và cho 03 người, gồm T, L và C.

* Tại Bản kết luận giám định số 06 ngày 19/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh S kết luận:

  • 01 ống thủy tinh (nỏ) được niêm phong gửi giám định không tìm thấy thành phần các chất ma túy và tiền chất theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP đề ngày 25/8/2022 của Chính phủ. Không xác định được khối lượng chất rắn màu đen bên trong do mẫu quá ít.

Tại Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy, ngày 13/10/2023 của Trạm y tế xã Đ xác định Kim Văn T và Thân Vũ L: Nghiện ma túy, chất Methamphetamine.

Về thu giữ, tạm giữ tài liệu và xử lý vật chứng:

Trong quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện K đã thu giữ:

  • Tiền việt nam 50.000 đồng;
  • 01 (Một) xe mô tô biển số: 83CA-04251;
  • Tiền Việt Nam: 165.200 đồng (Một trăm sáu mươi lăm nghìn, hai trăm đồng);
  • 01 (Một) tờ ngoại tệ Mỹ, mệnh giá 01 đôla;
  • 01 (Một) ống thủy tinh (loại ống nỏ để sử dụng ma túy đá);
  • 01 (Một) bóp (Ví) da màu đen, có chữ D&G đã qua sử dụng;
  • 01 (Một) CCCD tên Trương Hoàng T1, sinh năm: 10/4/1985; ấp M, H, P, Hậu Giang;
  • 01 (Một) giấy phép lái xe số [...], tên Trương Hoàng T1 hạng A1;
  • 01 (Một) giấy phép lái xe số [...], tên Trương Hoàng T1 hạng B2;
  • 01 (Một) chứng nhận đăng ký xe ô tô 95C-06661 tên Trương Văn B2;
  • 01 (Một) thẻ ATM ngân hàng S3 tên Trương Hoàng T1;
  • 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu samsung cảm ứng, màu đen, bị bể màn hình, không kiểm tra tình trạng bên trong đã qua sử sử dụng;
  • 01 (Một) chai nhựa màu trắng có nắp màu đỏ, trên nắp có 02 lỗ tròn gắn ống hút nhựa màu trắng-vàng, đã qua sử dụng;
  • 02 (Hai) hột quẹt gas (bật lửa) dán nhãn hiệu chữ Hoa Việt, đã qua sử dụng.

Cơ quan CSĐT Công an huyện C, tỉnh Hậu Giang tạm giữ:

  • 01 (Một) xe mô tô biển số 95E1-975.97 nhãn hiệu Honda wave RSX, màu xanh đen; số khung RLHJA385XNY110713; số máy JA52E0374308;
  • 01 (Một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 95 015624 biển số đăng ký 95E1-975.97 do thượng tá Võ Văn C2 – Phó Trưởng Công an huyện P ký ngày 31/03/2023 mang tên Trương Hoàng T1.

Việc xử lý vật chứng:

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức chuyển vật chứng đến Cơ quan CSĐT Công an huyện C, tỉnh Hậu Giang để giải quyết trong vụ trộm cắp tài sản xảy ra ngày 10/10/2023 tại ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Hậu Giang các tài sản sau:

  • 01 (Một) bóp (Ví) da màu đen, có chữ D&G đã qua sử dụng;
  • 01 (Một) CCCD tên Trương Hoàng T1, sinh năm: 10/4/1985; Nơi cư trú: ấp M, H, P, Hậu Giang;
  • 01 (Một) giấy phép lái xe số [...], tên Trương Hoàng T1, hạng A1;
  • 01 (Một) giấy phép lái xe số [...], tên Trương Hoàng T1, hạng B2;
  • 01 (Một) chứng nhận đăng ký xe ô tô 95C-06661 tên Trương Văn B2;
  • 01 (Một) thẻ ATM ngân hàng S3 tên Trương Hoàng T1.

Sau đó Cơ quan CSĐT Công an huyện C, tỉnh Hậu Giang ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại tài sản cho chủ sở hữu Trương Hoàng T1:

  • 01 (Một) xe mô tô biển số 95E1-975.97 nhãn hiệu Honda wave RSX, màu xanh đen; số khung RLHJA385XNY110713; số máy JA52E0374308;
  • 01 (Một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 95015624 biển số đăng ký 95E1-975.97 do thượng tá Võ Văn C2 – Phó Trưởng Công an huyện P ký ngày 31/03/2023 mang tên Trương Hoàng T1;
  • 01 (Một) bóp (Ví) da màu đen, có chữ D&G đã qua sử dụng;
  • 01 (Một) CCCD tên Trương Hoàng T1, sinh năm: 10/4/1985; Nơi cư trú: ấp M, H, P, Hậu Giang;
  • 01 (Một) giấy phép lái xe số [...], tên Trương Hoàng T1, hạng A1;
  • 01 (Một) giấy phép lái xe số [...], tên Trương Hoàng T1, hạng B2;
  • 01 (Một) chứng nhận đăng ký xe ô tô 95C-06661 tên Trương Văn B2;
  • 01 (Một) thẻ ATM ngân hàng S3 tên Trương Hoàng T1.

Trên cơ sở kết quả điều tra cùng những tài liệu chứng cứ thu được Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện K và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Hậu Giang đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Kim Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra trong quá trình điều tra đã chứng minh được Kim Văn T đi trộm cắp tài sản bán lấy tiền mua ma túy về tổ chức cho T, L và C sử dụng 03 lần nên ngày 12/01/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã ra Quyết định bổ sung Quyết định khởi tố vụ án và Quyết định bổ sung quyết định khởi tố bị can đối với Kim Văn T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Tại Cáo trạng số 29/CT-VKS-H.KS, ngày 28/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng đã truy tố bị cáo Kim Văn T, về các tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự và tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy", quy định tại điểm a, b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như Cáo trạng đã truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 48; Điều 50; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Về hình phạt: đề nghị xử phạt bị cáo Kim văn T5, mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm 06 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản".

Áp dụng điểm a, b, c khoản 2 Điều 255; điểm s, r khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 48; Điều 50; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Về hình phạt: đề nghị xử phạt bị cáo Kim Văn T, mức án từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm 06 tháng tù về tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy".

Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự, để tổng hợp hình phạt của 02 tội đối với bị cáo Kim Văn t mức án từ 09 năm đến 11 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại Trần Văn B yêu cầu Kim Văn T và Thân Vũ L bồi thường số tiền 3.000.000 đồng, bị hại Huỳnh Thanh S yêu cầu Kim Văn T và Thân Vũ L bồi thường số tiền 7.000.000 đồng.

Tại phiên tòa, bị cáo Kim Văn T, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Thân Vũ L và người đại diện hợp pháp của Thân Vũ L đồng ý bồi thường cho bị hại Trần Văn B 3.000.000 đồng và người bị hại Huỳnh Thanh S 7.000.000 đồng.

Xét thấy, sự tự nguyện của bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Thân Vũ L, người đại diện hợp pháp của Thân Vũ L ông Thân Văn S1 và bà Dương Thị B1 không trái pháp luật và đạo đức xã hội, nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện này.

Đối với ông Huỳnh Thanh T3 là người mua xe biển số 95E1-975.97 do Kim Văn T trộm cắp của Trương Hoàng T1 và bán sang tay nhiều người, sau đó ông T3 mua với số tiền 13.800.000 đồng thì bị Công an huyện C, tỉnh Hậu Giang thu giữ xe mô tô biển số 95E1-975.97 đã trả lại cho bị hại Trương Hoàng T1. Nay anh T3 yêu cầu người bán xe cho ông T3 bồi thường cho ông T3 số tiền 13.800.000 đồng.

Tại phiên tòa, ông Huỳnh Thanh T3 không chứng minh được người bán xe cho ông họ tên gì ở đâu và ông T3 sẽ khởi kiện vụ án dân sự khác khi bản án có hiệu lực pháp luật, nên đề nghị Hội đồng xét xử tách phần yêu cầu trách nhiệm dân sự của ông T3 để ông T3 khởi kiện thành một vụ án dân sự khác theo quy định của pháp luật.

Về xử lý vật chứng:

Đối với các vật chứng của vụ án: Trong giai đoạn điều tra đã thu giữ và đã chuyển cho Cơ quan Điều tra Công an huyện C, tỉnh Hậu Giang để xử lý trong một vụ án khác và Công an huyện C đã xử lý giao trả cho chủ sở hữu, nên không đặt ra xem xét.

Đối với vật chứng:

  • T10 50.000 đồng;
  • 01 (Một) xe mô tô biển số: 83CA-04251;
  • Tiền Việt Nam: 165.200 đồng (Một trăm sáu mươi lăm nghìn, hai trăm đồng);
  • 01 (Một) tờ ngoại tệ Mỹ, mệnh giá 01 đôla;
  • 01 (Một) ống thủy tinh (loại ống nỏ để sử dụng ma túy đá);
  • 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu samsung cảm ứng, màu đen, bị bể màn hình, không kiểm tra tình trạng bên trong đã qua sử sử dụng;
  • 01 (Một) chai nhựa màu trắng có nắp màu đỏ, trên nắp có 02 lỗ tròn gắn ống hút nhựa màu trắng-vàng, đã qua sử dụng;
  • 02 (Hai) hột quẹt gas (bật lửa) dán nhãn hiệu chữ Hoa Việt, đã qua sử dụng.

Xét thấy, các vật chứng nêu trên là tài sản của bị cáo T, của người có liên quan Thân Vũ L và Kim Văm C, nên cần giao trả cho Bị cáo T, Thân Vũ L và Kim Văn C theo quy định của pháp luật.

Đối với Tiền Việt N1: 165.200 đồng (Một trăm sáu mươi lăm nghìn, hai trăm đồng). Xét thấy, số tiền trên là tiền thu lợi bất chính của bị cáo Kim Văn T, nên cần tịch thu sung quỹ N2 nước theo quy định của pháp luật.

Đối với vật chứng:

  • 01 (Một) ống thủy tinh (loại ống nỏ để sử dụng ma túy đá);
  • 01 (Một) chai nhựa màu trắng có nắp màu đỏ, trên nắp có 02 lỗ tròn gắn ống hút nhựa màu trắng-vàng, đã qua sử dụng;
  • 02 (Hai) hột quẹt gas (bật lửa) dán nhãn hiệu chữ Hoa Việt, đã qua sử dụng.

Xét thấy, các vật chứng trên là công cụ bị cáo thực hiện việc phạm tội, nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định của pháp luật.

[10] Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại Trần Văn B yêu cầu Kim Văn T và Thân Vũ L bồi thường số tiền 3.000.000 đồng, bị hại Huỳnh Thanh S yêu cầu Kim Văn T và Thân Vũ L bồi thường số tiền 7.000.000 đồng.

Tại phiên tòa, bị cáo Kim Văn T, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Thân Vũ L và người đại diện hợp pháp của Thân Vũ L đồng ý bồi thường cho bị hại Trần Văn B 3.000.000 đồng và người bị hại Huỳnh Thanh S 7.000.000 đồng. nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện này của bị cáo T, người liên quan ông L và người đại diện hợp pháp của ông L theo quy định của pháp luật.

Đối với ông Huỳnh Thanh T3 là người mua xe biển số 95E1-975.97 do Kim Văn T trộm cắp của Trương Hoàng T1 và bán sang tay nhiều người, sau đó ông T3 mua với số tiền 13.800.000 đồng thì bị Công an huyện C, tỉnh Hậu Giang thu giữ xe mô tô biển số 95E1-975.97 đã trả lại cho bị hại Trương Hoàng T1. Nay anh T3 yêu cầu người bán xe cho ông T3 bồi thường cho ông T3 số tiền 13.800.000 đồng.

Tại phiên tòa, ông Huỳnh Thanh T3 không chứng minh được người bán xe cho ông họ tên gì ở đâu và ông T3 sẽ khởi kiện vụ án dân sự khác khi bản án có hiệu lực pháp luật, nên Hội đồng xét xử tách phần yêu cầu trách nhiệm dân sự của ông T3 để ông T3 khởi kiện thành một vụ án dân sự khác theo quy định của pháp luật.

Đối với Thân Vũ L cùng bị cáoTriệu trộm cắp tài sản của người khác, nhưng tại thời điểm phạm tội L chưa đủ 16 tuổi, chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên không bị truy cứu về tội trộm cắp tài sản. Đối với hành vi của Thân Vũ L có cùng với bị cáo Kim Văn T tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, nhưng theo quy định tại khoản 2 Điều 12 Bộ luật Hình sự thì L không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Đối với Kim Văn C không có tham gia cùng T và L trộm xe của người khác nên không đồng phạm với bị cáo T về tội Trộm cắp tài sản. Đối hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thì C chỉ là người được bị cáo T cho sử dụng ma túy miễn phí cùng với bị cáo T và L không tham gia hùn tiền hay giúp sức gì đối với T nên C không đồng phạm với bị cáoTriệu về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

Đối với hành vi của Phạm Đức T2 cho bị cáo T thuê nhà nhưng không biết T dùng để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên không có căn cứ để xử lý đối với T2.

Đối với những người bán ma túy cho bị cáo T do bị cáo T không nhớ địa chỉ và đặc điểm nhận dạng của những người bán ma túy nên chưa làm việc được, khi nào làm việc được sẽ xử lý sau.

Đối với Trương Văn N mua xe biển số 54V5-0781 không biết tài sản do bị cáo T trộm cắp mà có nên không phạm tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

Đối với Trương Thanh T6, Huỳnh Thanh T3, Nguyễn Văn T7 mua xe 95E1-975.97 nhưng không biết tài sản trộm cắp mà có nên không phạm tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

Đối với người mua xe biển số 83C1-062.04 của Triệu bán, do bị cáo T không nhớ họ tên và địa chỉ nên Cơ quan điều tra chưa làm việc được khi nào làm việc được sẽ xử lý sau.

[11] Về án phí: Bị cáo là người bị kết án, nên bị cáo phải chịu nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Kim Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản” và tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy".

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 48; Điều 50; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự về tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm a, b, c khoản 2 Điều 255; điểm s, r khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 48; Điều 50; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự.

Áp điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 299; Điều 333 và Điều 338 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử phạt bị cáo Kim Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” và 09 (chín) năm tù, về tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy".

Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo Kim Văn T phải chấp hành là 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/01/2024.

  1. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Kim Văn T, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Thân Vũ L thông qua người đại diện hợp pháp của Thân Vũ L ông Thân Văn S1 và bà Dương Thị B1 phải bồi thường cho các bị hại Trần Văn B 3.000.000 đồng và Huỳnh Thanh S 7.000.000 đồng, cụ thể như sau:

Buộc bị cáo Kim Văn T phải bồi thường thiệt hại cho bị hại Trần Văn B 1.500.000 đồng và bồi thường cho bị hại Huỳnh Thanh S 3.500.000 đồng.

Buộc ông Thân Vũ L thông qua người đại diện hợp pháp của ông L và ông Thân Văn S1 và bà Dương Thị B1 phải bồi thường thiệt hại cho bị hại Trần Văn B 1.500.000 đồng và bồi thường thiệt hại cho bị hại Huỳnh Thanh S 3.500.000 đồng.

  1. Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày các bị hại có đơn yêu cầu thi hành án thì hàng tháng bị cáo Kim Văn T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Thân Vũ L còn phải trả lãi cho những người bị hại mức lãi suất theo khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, đối với số tiền chậm thi hành án.
  1. Về xử lý vật chứng của vụ án:

Giao trả cho bị cáo Kim Văn T: T10 50.000 đồng; 01 (Một) tờ ngoại tệ Mỹ, mệnh giá 01 đôla;

Giao trả cho ông Thân Văn S1: 01 (Một) xe mô tô biển số: 83CA-042.51;

Giao trả cho Kim Văn C: 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu samsung cảm ứng, màu đen, bị bể màn hình, không kiểm tra tình trạng bên trong đã qua sử sử dụng;

Tịch thu sung quỹ Nhà nước: Tiền Việt Nam: 165.200 đồng (Một trăm sáu mươi lăm nghìn, hai trăm đồng);

Tịch thu và tiêu hủy: 01 (Một) ống thủy tinh (loại ống nỏ để sử dụng ma túy đá); 01 (Một) chai nhựa màu trắng có nắp màu đỏ, trên nắp có 02 lỗ tròn gắn ống hút nhựa màu trắng-vàng, đã qua sử dụng; 02 (Hai) hột quẹt gas (bật lửa) dán nhãn hiệu chữ Hoa Việt, đã qua sử dụng.

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng, tài sản ngày 14/5/2024 giữa Công an huyện K và Chi cục thi hành án dân sự huyện Kế Sách).

  1. Về án phí: Buộc bị cáo Kim Văn T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng và án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng. Buộc người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Thân Vũ L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng.
  1. Về quyền kháng cáo bản án: Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với người bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử vụ án theo trình tự phúc thẩm.
  1. Trong trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu thi hành án, thõa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh ST;
  • - VKND tỉnh ST
  • - VKSND huyện KS;
  • - Bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp bị hại;
  • người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Chi cục THADS huyện Kế Sách;
  • - Cơ quan THAHS, CA huyện Kế Sách;
  • - Sở Tư pháp tỉnh ST;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Văn Nhẫn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2024/HS-ST ngày 27/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG về vụ án hình sự (trộm cắp tài sản và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 34/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự (Trộm cắp tài sản và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Kim van TR
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger