Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MAI CHÂU

TỈNH HOÀ BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2025/HS-ST

Ngày: 08 - 4 - 2025.

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI CHÂU, TỈNH HÒA BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Ngọc Tiến

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Tần Thanh Hòa;

Bà Hà Thị Tám.

- Thư ký phiên tòa: Bà Khà Thị Thanh Loan – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa: Bà Lê Thúy Quỳnh - Kiểm sát viên

Ngày 08 tháng 4 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 20/2025/TLST - HS ngày 10 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 28/2025/QĐXXST - HS ngày 25 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Hà Văn L, sinh ngày 18 tháng 02 năm 1986, tại huyện M, tỉnh Hòa Bình; nơi cư trú: bản S, xã C, huyện M, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn Ú, sinh năm 1966 (đã chết) và bà Hà Thị Ê, sinh năm 1966; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 13/12/2007 bị Công an huyện M, tỉnh Hòa Bình bắt đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc; ngày 20/12/2013 bị Ủy ban nhân dân tỉnh H áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng thời hạn 24 tháng, theo Quyết định số 3015; có sử dụng và nghiện chất ma túy; bị cáo bị tạm giữ ngày 30/12/2024, chuyển tạm giam ngày 08/01/2025. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 30/12/2024, Tổ công tác Công an xã V, huyện M, tỉnh Hòa Bình, phối hợp với Công an xã M và Đội Cảnh sát Điều tra tội phạm về hình sự án kinh tế, ma túy Công an huyện M đang làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát tại xóm Đ, xã M, huyện M, phát hiện Hà Văn L đang đi bộ dọc đường có nhiều biểu hiện nghi vấn nên đã yêu cầu dừng lại để kiểm tra. Nhận thấy hành vi phạm tội của mình không thể trốn tránh được, L đã tự giác lấy trong túi áo khoác bên phải đang mặc 01 gói giấy bạc bên trong có chứa 01 viên nén màu hồng và chất bột dạng cục màu trắng. L khai nhận đó là ma túy, tàng trữ để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ, niêm phong toàn bộ vật chứng theo quy định.

Kết quả điều tra như sau: khoảng 13 giờ 00, ngày 30/12/2024, Hà Văn L một mình đi bộ từ nhà đến xóm L, xã M để tìm mua ma túy. Tại đây L có gặp một người đàn ông không quen biết đang đứng ở ven đường, qua nói chuyện biết người này có ma túy bán nên L đã đưa cho người đàn ông này 200.000 đồng để mua ma túy. Nhận tiền xong, người đó đưa cho L 01 gói giấy bạc bên trong có chứa ma túy. Sau khi mua được ma túy, L cất giấu vào trong túi áo khoác bên phải đang mặc rồi đi bộ về nhà. Khi đi đến địa phận xóm Đ, xã M thì bị cơ quan Công an bắt quả tang

Tại kết luận giám định số 62/KL-KTHS ngày 06/01/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hòa Bình kết luận: Viên nén màu hồng có khối lượng 0,10g (không phẩy một gam) là ma túy, loại Methamphetamine; chất bột dạng cục có khối lượng 0,09g (không phẩy không chín gam) là ma túy, loại Heroine.

Tại bản Cáo trạng số: 26/CT-VKSMC ngày 07 tháng 3 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu truy tố Hà Văn L về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu luận tội giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh, hình phạt: đề nghị tuyên bố bị cáo Hà Văn L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt Hà Văn L từ 13 tháng đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 30/12/2024.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định. Không có điều kiện thi hành nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tuyên tịch thu toàn bộ số ma túy thu được, sau khi giám định còn lại đã hoàn trả, để tiêu hủy.

Về vấn đề khác: đối người đã bán ma túy cho Hà Văn L, quá trình điều tra không xác định được họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, do đó không có căn cứ để mở rộng điều tra nên đề nghị không xét đến.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định.

Đề nghị áp dụng khoản 1 và khoản 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Tại phần tranh luận bị cáo không có ý kiến gì tranh luận, đồng ý với nội dung bản cáo trạng và bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng của bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Tại cơ quan điều tra và phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu được, kết luận giám định cùng toàn bộ các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó đã có đủ căn cứ để kết luận: ngày 30/12/2024 Hà Văn L có hành vi tàng trữ 0,10 gam ma tuý, loại Methamphetamine và 0,09 gam ma túy, loại Heroine trong túi áo đang mặc. Tổng khối lượng các chất ma túy Hà Văn L tàng trữ trái phép là 0,19 gam. Mục đích là để sử dụng phục vụ nhu cầu bản thân, ngoài ra không còn mục đích nào khác. Như vậy có đủ căn cứ xác định bị cáo Hà Văn L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[2] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội: hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi ma tuý là một hiểm hoạ mà cả nhân loại đang ra sức loại trừ khỏi đời sống xã hội, nó làm ảnh hưởng tới sức khoẻ và kinh tế gia đình, làm huỷ hoại nhân cách con người và phát sinh nhiều tội phạm hình sự khác. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hơn nữa bị cáo còn là người có nhân thân xấu, đã từng áp dụng biện pháp chữa bệnh bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng, không lấy đó làm bài học kinh nghiệm để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà vẫn vi phạm pháp luật. Nên việc đưa bị cáo ra xét xử là cần thiết, có tính chất răn đe.

[3] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: tại Cơ quan Điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Căn cứ quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội, nguyên nhân, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo, xét cần xử phạt tù có thời hạn với mức án tương xứng đối với bị cáo, nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[5] Về tội danh, điều luật áp dụng, hình phạt, hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, tạm giam sau khi tuyên án và về các vấn đề khác mà đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đã có ý kiến đề nghị nêu trên. Xét thấy có căn cứ phù hợp quy định pháp luật cần xử lý, giải quyết theo hướng đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

[6] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[7] Về án phí: Bị cáo Hà Văn L phải nộp án phí theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh, hình phạt:

    Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

    • Tuyên bố bị cáo Hà Văn L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
    • Xử phạt bị cáo Hà Văn L 14 (Mười bốn) tháng tù. Thời hạn tính từ ngày tạm giữ 30/12/2024.
  2. Về xử lý vật chứng:

    Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên:

    • Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số Methamphetamine và H sau khi giám định còn lại đã hoàn trả, trong 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước có chữ Bộ C, Công an tỉnh H, mẫu vật còn lại sau khi giám định, vụ Hà Văn L, có hành vi phạm tội về ma túy, xảy ra ngày 30 tháng 12 năm 2024 tạixã M, huyện M, tỉnh Hòa Bình. Mặt sau phong bì có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong được đóng dấu giáp lai, dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình.

    (Các vật chứng nêu trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mai Châu, tình trạng, đặc điểm cụ thể của các vật chứng được ghi trong Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số: 41/THA ngày 04/4/2025 giữa bên giao Công an tỉnh Hòa Bình, bên nhận Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mai Châu).

  3. Về án phí:

    Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Bị cáo Hà Văn L phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo:

    Áp dụng Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh HB;
  • - Phòng PV06 CA tỉnh HB;
  • - Trại tạm giam; Phòng Hồ sơ CAT;
  • - VKSND huyện MC;
  • - Cơ quan ĐT;
  • - Chi cục THA dân sự;
  • - Hồ sơ THAHS;
  • - UBND xã Chiềng Châu;
  • - Người TGTT;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

(đã ký)

Đào Ngọc Tiến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2025/HS-ST ngày 08/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI CHÂU, TỈNH HÒA BÌNH về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 34/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI CHÂU, TỈNH HÒA BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: - Tuyên bố bị cáo Hà Văn L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. - Xử phạt bị cáo Hà Văn L 14 (Mười bốn) tháng tù. Thời hạn tính từ ngày tạm giữ 30/12/2024.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger