Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 34/2025/KDTM-ST

Ngày: 28 – 02 – 2025

V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trúc Chi.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Võ Thị Gái.
  2. Bà Nguyễn Hương Thủy.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Vũ Lê Quang Đ - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 220/2024/TLST-DS ngày 30 tháng 5 năm 2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10280/2024/QĐXXST-DS ngày 23 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 10302/2024/QĐST-DS ngày 23 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP H1.

Trụ sở: Số E A, đường N, phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Trần Trọng T, ông Nguyễn Ngọc A (Giấy ủy quyền số: 319/2024/UQ-TGĐ12 ngày 11/01/2024 của Ngân hàng TMCP H1), ông T, ông A vắng mặt theo đơn xin vắng mặt.

2. Bị đơn: Công ty TNHH X.

Trụ sở: Số B đường N, Khu phố D, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Hồng H.

Địa chỉ: Số A đường N, Phường F, thành phố T, tỉnh Long An, vắng mặt.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Hồng H.

Địa chỉ: Số A đường N, Phường F, thành phố T, tỉnh Long An, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện ngày 26/3/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Ngân hàng TMCP H1 có ông Trần Trọng T, ông Nguyễn Ngọc A là người đại diện theo ủy quyền vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã nộp bản tự khai trình bày ý kiến như sau:

Công ty TNHH X (sau đây gọi tắt là Công ty X) có ký kết Hợp đồng tín dụng hạn mức số 0508/2022/HĐTD ngày 05/8/2022, Phụ lục số 01 và Phụ lục số 02 Thỏa thuận sử dụng sản phẩm cho vay linh hoạt MFINE kèm theo Hợp đồng tín dụng hạn mức số 0508/2022/HĐTD với Ngân hàng TMCP H1 (sau đây gọi tắt là Ngân hàng M). Theo nội dung hợp đồng, Công ty X đã vay số tiền 500.000.000 đồng với thời hạn vay 12 tháng, kể từ ngày 05/8/2022. Ông Lê Hồng H là người đại diện theo pháp luật của Công ty X L đã ký Giấy cam kết về việc bảo lãnh trả nợ tiền vay với nội dung bảo lãnh toàn bộ khoản nợ của Công ty X L.A. Sau khi vay tiền, Công ty X L.A chỉ trả được khoản tiền nợ lãi trong hạn là 15.000.035 đồng. Nay Ngân hàng MSB yêu cầu Công ty X hoàn trả số tiền 819.385.382 đồng, trong đó bao gồm: Tiền nợ gốc 500.000.000 đồng, tiền nợ lãi trong hạn: 28.843.715 đồng, tiền nợ lãi quá hạn tạm tính đến ngày 28/02/2025 là 290.541.667 đồng. Từ sau ngày 28/02/2025, Công ty X vẫn phải tiếp tục chịu lãi quá hạn theo Hợp đồng tín dụng cho tới khi thanh toán xong toàn bộ số nợ cho Ngân hàng M. Trong trường hợp Công ty X L.A không hoàn trả đầy đủ tiền nợ gốc và nợ lãi, Ngân hàng M yêu cầu ông Lê Hồng H hoàn trả nợ thay cho Công ty X L.A theo Giấy cam kết về việc bảo lãnh trả nợ tiền vay của ông Lê Hồng H.

Bị đơn Công ty X L.A vắng mặt trong quá trình tiến hành tố tụng nên Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức không thu thập được lời trình bày và các tài liệu, chứng cứ của Công ty X L.A giao nộp.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lê Hồng H vắng mặt trong quá trình tiến hành tố tụng nên Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức không thu thập được ý kiến trình bày và các tài liệu, chứng cứ do các ông Lê Hồng H giao nộp.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu quan điểm:

- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và các đương sự đã tuân thủ trình tự, thủ tục luật định.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Nguyên đơn Ngân hàng M khởi kiện bị đơn Công ty X về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, bị đơn có trụ sở tại thành phố T. Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.

[2] Về thủ tục tố tụng:

[2.1]

Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng M là ông Trần Trọng T, ông Nguyễn Ngọc A vắng mặt nhưng có đơn đề nghị giải quyết vụ án vắng mặt; bị đơn Công ty X vắng mặt không có lý do đến lần thứ hai. Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã thực hiện thủ tục niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng đối với Công ty X L.A tại địa chỉ trụ sở Công ty tại số B đường N, Khu phố D, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Đối với người đại diện theo pháp luật của Công ty X là ông Lê Hồng H, đồng thời ông H còn là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án, ông H vắng mặt tại phiên tòa, ông H có địa chỉ cư trú tại số A đường N, Phường F, thành phố T, tỉnh Long An. Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã ủy thác cho Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An thu thập lời khai, tài liệu chứng cứ và tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đối với ông Lê Hồng H theo Quyết định ủy thác thu thập tài liệu, chứng cứ số 325/2024/QĐ-UTTA ngày 08/10/2024 và Quyết định ủy thác thu thập tài liệu, chứng cứ số 390/2024/QĐ-UTTA ngày 23/12/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức. Thực hiện Quyết định ủy thác thu thập tài liệu, chứng cứ số 325/2024/QĐ-UTTA, Tòa án nhân dân thành phố Tân An đã lập Biên bản về việc tống đạt không được ngày 05/11/2024. Thực hiện Quyết định ủy thác thu thập tài liệu, chứng cứ số 390/2024/QĐ-UTTA, Tòa án nhân dân thành phố Tân An đã lập Biên bản về việc tống đạt không được ngày 30/12/2024. Ngoài ra, Tòa án nhân dân thành phố Tân An đã thực hiện thủ tục niêm yết các văn bản tố tụng của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đối với ông Lê Hồng H, thể hiện tại Biên bản niêm yết ngày 05/11/2024, Biên bản niêm yết ngày 30/12/2024. Tại phiên tòa, ông Lê Hồng H vắng mặt không lý do đến lần thứ hai. Căn cứ Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2.2]

Theo ý kiến trình bày của Ngân hàng M hợp đồng tín dụng được bảo lãnh bởi ông Lê Hồng H, không liên quan đến bất kỳ ai khác. Do đó, không có cơ sở để triệu tập thêm người tham gia tố tụng.

[3] Về yêu cầu của đương sự: Nguyên đơn Ngân hàng M yêu cầu bị đơn Công ty X L.A trả tiền nợ gốc và tiền lãi, Hội đồng xét xử nhận định:

[3.1] Về hiệu lực của Hợp đồng tín dụng hạn mức số 0508/2022/HĐTD ngày 05/8/2022 và các phụ lục, thỏa thuận:

Căn cứ ý kiến trình bày của nguyên đơn, đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được, có đầy đủ cơ sở để xác định ngày 05/8/2022, Ngân hàng M có ký kết Hợp đồng tín dụng hạn mức số 0508/2022/HĐTD ngày 05/8/2022 với Công ty X để cho Công ty X L.A vay tiền. Xét về mặt hình thực, hợp đồng được xác lập băng văn bản, do người có thẩm quyền của Ngân hàng M và Công ty X tự nguyện ký kết. Về nội dung, hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, thể hiện ý chí tự nguyện của các bên khi tham gia ký kết, phù hợp quy định tại Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015. Do đó, Hợp đồng tín dụng hạn mức số 0508/2022/HĐTD ngày 05/8/2022 có hiệu lực pháp luật, là căn cứ phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng.

[3.2] Nguyên đơn Ngân hàng M yêu cầu Công ty X L.A hoàn trả số tiền nợ gốc: 500.000.000 đồng, tiền nợ lãi trong hạn: 28.843.715 đồng, tiền nợ lãi quá hạn tạm tính đến ngày 28/02/2025 là 290.541.667 đồng, Hội đồng xét xử nhận định:

Trên cơ sở Giấy nhận nợ số 354328320220824144117 ngày 24/8/2022 và Văn bản xác nhận kết quả giải ngân đính kèm Giấy nhận nợ số 354328320220824144117, số tiền nợ gốc mà Công ty X đã vay của Ngân hàng M là 500.000.000 đồng. Giấy nhận nợ này được Công ty X L.A ký bằng chữ ký số. Phía Công ty X không có mặt trong quá trình tố tụng mặc dù đã được Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng nên Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức không thu thập được lời khai cũng như các tài liệu, chứng cứ do Công ty X L.A xuất trình. Trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ do Ngân hàng M giao nộp, căn cứ Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng, Hội đồng xét xử buộc Công ty X L.A trả số tiền nợ gốc 500.000.000 đồng cho Ngân hàng M.

[3.3] Nguyên đơn Ngân hàng M yêu cầu Công ty X L.A trả tiền nợ lãi, Hội đồng xét xử nhận định:

[3.3.1]

Theo quy định tại điểm b khoản 5 Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015, điểm c khoản 4 Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N, trường hợp khoản vay bị chuyển nợ quá hạn thì khách hàng phải trả lãi trên dư nợ, lãi suất quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay trong hạn theo hợp đồng, tương ứng với thời gian chậm trả. Theo điểm c khoản 1 Điều 5 Hợp đồng tín dụng hạn mức số 0508/2022/HĐTD ngày 05/8/2022, các bên thỏa thuận lãi suất quá hạn theo quy định tại Giấy nhận nợ. Tại Giấy nhận nợ số 354328320220824144117 ngày 24/8/2022, mức lãi suất nợ quá hạn theo thỏa thuận của các bên là 150% lãi suất trong hạn.

[3.3.2] Về việc xác định ngày chuyển nợ quá hạn:

Tại Điều 10 Hợp đồng tín dụng hạn mức số 0508/2022/HĐTD ngày 05/8/2022, các bên thỏa thuận nếu đến hạn trả nợ, khách hàng không trả nợ đúng hạn thì số dư nợ gốc được chuyển sang nợ quá hạn. Xét thỏa thuận này là phù hợp điểm b khoản 5 Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015, điểm c khoản 4 Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N.

[3.3.3] Về phạt chậm trả lãi:

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015, điểm c khoản 4 Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN, trường hợp khách hàng không trả đúng hạn tiền lãi trên nợ gốc thì còn phải trả lãi chậm trả theo mức lãi suất đã thỏa thuận không vượt quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Theo hướng dẫn tại khoản 4 Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP, ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì thời gian chậm trả tiền lãi trên nợ gốc được xác định bắt đầu kể từ ngày tiếp theo liền kề của ngày phải trả lãi trên nợ gốc đến thời điểm xét xử sơ thẩm.

[3.3.4]

Nguyên đơn Ngân hàng M yêu cầu Công ty X L.A trả tiền nợ lãi là phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng. Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng quy định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Nay Ngân hàng MSB yêu cầu Công ty X L.A trả tiền lãi trong hạn, tiền lãi quá hạn là phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3.4]

Tổng số tiền Công ty X phải hoàn trả cho Ngân hàng M là 500.000.000 đồng + 28.843.715 đồng + 290.541.667 đồng = 819.385.382 đồng.

[3.5]

Ngân hàng M yêu cầu bị đơn thanh toán tiền lãi phát sinh từ ngay sau ngày 28/02/205 cho đến khi trả dứt nợ. Hội đồng xét xử nhận định: Xét yêu cầu của Ngân hàng M là đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của Ngân hàng M và phù hợp quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3.6]

Ngân hàng M yêu cầu ông Lê Hồng H thực hiện nghĩa vụ trả toàn bộ khoản nợ nếu bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ, Hội đồng xét xử nhận định: Ông Lê Hồng H là người đại diện theo pháp luật của Công ty X đã tự nguyện ký Giấy cam kết về việc bảo lãnh trả nợ tiền vay với nội dung bảo lãnh toàn bộ khoản nợ của Công ty X L.A. Xét về hình thức, Giấy cam kết được xác lập bằng văn bản, về nội dung không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, được ông Lê Hồng H ký kết hoàn toàn tự nguyện nên có hiệu lực pháp luật. Tại khoản 3 Giấy cam kết về việc bảo lãnh trả nợ tiền vay, ông Lê Hồng H cam kết như sau: “Trong phạm vi giá trị bảo lãnh, Bên bảo lãnh đồng ý thanh toán vô điều kiện cho MSB trong thời hạn do MSB quy định ngay khi MSB có văn bản yêu cầu. Bên Bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh do Bên được bảo lãnh có nợ quá hạn, phải trả nợ trước hạn và/hoặc vi phạm bất kỳ nghĩa vụ nào khác theo các Hợp đồng tín dụng và các văn bản khác được nêu tại khoản 1 Giấy cam kết này”. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng M về việc buộc ông Lê Hồng H thực hiện nghĩa vụ trả toàn bộ khoản nợ nếu Công ty X không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ.

[4] Về án phí:

Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu tiền án phí. Hoàn trả tiền tạm ứng án phí cho Ngân hàng M.

[5] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức là phù hợp quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • Điều 117, Điều 370, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010.
  • Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Luật Thi hành án dân sự;

Xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn TMCP H1:

Buộc Công ty TNHH X hoàn trả cho Ngân hàng TMCP H1 số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 28/02/2025 là 819.385.382 (tám trăm mười chín triệu, ba trăm tám mươi lăm nghìn, ba trăm tám mươi hai) đồng, bao gồm: Tiền nợ gốc là 500.000.000 đồng, tiền nợ lãi trong hạn: 28.843.715 đồng, tiền nợ lãi quá hạn là 290.541.667 đồng.

Thực hiện giao nhận tiền ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, tại Ngân hàng TMCP H1 hoặc cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Ngay sau khi bản án có hiệu lực thi hành, nếu bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ trả tiền thì Ngân hàng TMCP H1 được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền buộc ông Lê Hồng H phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho Công ty TNHH X.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày 28/02/2025, khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trong trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

2. Về án phí:

Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 36.581.561 (ba mươi sáu triệu, năm trăm tám mươi mốt nghìn, năm trăm sáu mươi mốt) đồng, Công ty X phải chịu.

Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP H1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 15.133.112 (mười lăm triệu, một trăm ba mươi ba nghìn, một trăm mười hai) đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0027173 ngày 29/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức.

3. Về quyền kháng cáo:

Các đương sự vắng mặt được kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tống đạt hoặc niêm yết bản sao bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, quyền tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức;
  • - Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự Tp. Thủ Đức;
  • - Lưu VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Trúc Chi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2025/KDTM-ST ngày 28/02/2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 34/2025/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: "Tranh chấp hợp đồng tín dụng" giữa nguyên đơn Ngân hàng TMCP HHVN và bị đơn Công ty TNHH TMDV
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger