TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 34/2025/KDTM-PT Ngày 12/6/2025 “V/v tranh chấp hợp đồng mua bán” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Trần Thị Bé.
Các Thẩm phán:Nguyễn Hữu Thị Hảo Hảo.
Trần Thị Thanh Mai.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Huy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng: Bà Nguyễn Thị Tú Anh - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 12 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 04/2025/TLPT-KDTM ngày 18 tháng 02 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán”.
Do Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số: 15/2024/KDTM-ST ngày 27 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 144/2025/QĐ-PT ngày 14 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số: 252/2025/QĐ-PT ngày 13 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty TNHH MTV Đ; Địa chỉ trụ sở: D đường V, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Công C, sinh năm: 1985; Địa chỉ: D đường V, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. (Theo văn bản ủy quyền ngày 20/5/2024). Có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Trần Văn H hoặc Luật sư Lê Thị Thanh P - Công ty L1 thuộc Đoàn Luật sư thành phố Đ. (Có mặt).
- Bị đơn: Công ty TNHH X1; Địa chỉ trụ sở: Thôn P, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng; Địa chỉ Văn phòng liên hệ: 60/3 đường T, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Phạm Hồ Hoàng L, sinh năm: 1997 hoặc/và ông Đặng Phước A, sinh năm: 1995; Cùng địa chỉ: 5 đường T, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng. (Theo Văn bản ủy quyền ngày 01/8/2024). Ông Đặng Phước A có mặt.
- Người kháng cáo: Công ty TNHH MTV Đ là nguyên đơn và Công ty TNHH X1 là bị đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Đại diện cho nguyên đơn Công ty TNHH MTV Đ và TM Ngân My là ông Nguyễn Công C trình bày: Vào ngày 07/01/2023, Công ty TNHH MTV Đ (Gọi tắt Công ty Đ) và Công ty TNHH X1 (Gọi tắt Công ty Xl) có ký kết 02 Hợp đồng kinh tế về việc cung ứng và vận chuyển đất. Theo đó, Công ty Đ sẽ cung cấp và vận chuyển các loại đất theo các hợp đồng đến vị trí chân công trình của Công ty X1 thuộc Dự án Khu TĐC phục vụ Làng Đ phường H, quận N, thành phố Đà Nẵng gồm: Hợp đồng kinh tế số: 01/2023/HĐKT/NMY-HV ngày 07/01/2023 về việc cung cấp đất với đơn giá 77.400 đồng/m3 (loại đất làm đường). Tổng giá cung cấp đất và vận chuyển là 156.400 đồng/m3. Hợp đồng kinh tế số: 01/2023/HĐKT/NMY-HV ngày 07/01/2023 và phụ lục hợp đồng số PL 01/2023/HĐKT/NMY-HV ngày 16/4/2023 về việc cung cấp đất với đơn giá 55.000 đồng/m3 (loại đất san lấp mặt bằng). Tổng giá cung cấp đất và vận chuyển là 140.000 đồng/m3 (đơn giá được điều chỉnh theo Phụ lục hợp đồng).
Nội dung hợp đồng thể hiện đơn giá thỏa thuận trên đã bao gồm thuế GTGT và các loại phí khác. Số lượng giao nhận sẽ được xác định theo từng chuyến hàng mà Công ty Đ cung ứng và giao đến chân công trình cho Công ty X1, có xác nhận của đại diện hai bên. Việc thanh toán sẽ được Công ty X1 thanh toán trước mỗi đợt nhận hàng, Công ty Đ sẽ cung ứng và vận chuyển đất với khối lượng tương ứng mà số tiền Công ty X1 thanh toán trước đó. Ngày 25 hàng tháng hai bên sẽ cùng đối chiếu khối lượng đã giao nhận và Công ty Đ sẽ xuất hóa đơn. Quá trình thực hiện hợp đồng giữa hai bên diễn ra từ tháng 02/2023 đến tháng 07/2023. Mặc dù thỏa thuận phải thanh toán tiền trước khi giao hàng nhưng vì nể nang trong kinh doanh nên Công ty Đ vẫn vận chuyển và giao vật liệu đến chân công trình theo yêu cầu mặc dù Công ty X1 chưa thanh toán. Khối lượng đất Công ty Đ giao cho Công ty X1 vào cuối mỗi tháng đều được hai bên kiểm tra đối chiếu khối lượng và thể hiện bằng Bảng kê khối lượng và Biên bản nghiệm thu khối lượng và giá trị thực hiện, có xác nhận của đại diện hai bên. Sau khi hai bên chốt số liệu, Công ty Đ xuất hóa đơn giá trị gia tăng cho Công ty X1. Việc thanh toán sẽ được Công ty X1 chuyển khoản vào tài khoản Ngân hàng của Công ty Đ và Công ty X1 đã chuyển tiền theo từng đợt (chứ không chuyển tiền theo từng hóa đơn cụ thể hay khối lượng cụ thể). Lý do trong cùng một ngày 07/01/2023 giữa Công ty X1 và Công ty Đ có ký 02 Hợp đồng cùng số cùng ngày là vì theo thỏa thuận Công ty Đ sẽ cung cấp cho Công ty X1 02 loại đất theo 02 đơn giá khác nhau, cụ thể: đất để làm đường đơn giá 77.400 đồng/m3; phí vận chuyển 79.000 đồng/m3 và đơn giá đất để san lấp nền đơn giá 55.000 đồng/m3; phí vận chuyển 85.000 đồng/m3. Do cùng một công trình và hợp đồng ký cùng ngày nên số hợp đồng lấy cùng một số cho dễ quản lý và nghiệp vụ kế toán khi làm thủ tục thanh toán sẽ dễ hơn và quá trình báo cáo với cơ quan thuế cũng thuận lợi hơn. Theo thỏa thuận tại 02 Hợp đồng và phụ lục hợp đồng nêu trên thì không có ghi thỏa thuận về lãi hay phí phạt chậm thanh toán; lý do việc không ghi thỏa thuận về lãi hay phí phạt chậm thanh toán trong các hợp đồng nêu trên là do 02 Công ty thỏa thuận Công ty X1 thanh toán trước khi Công ty Đ cung cấp đất; do thỏa thuận thanh toán trước nên các bên không ghi về tính lãi suất. Tuy nhiên căn cứ để Công ty Đ yêu cầu tính lãi đối với số tiền chậm thanh toán là do thực tế Công ty X1 có chậm thanh toán tiền nên Công ty X1 phải chịu mức lãi suất theo mức lãi suất Ngân hàng quy định. Ngoài ra, theo thỏa thuận tại 02 Hợp đồng và phụ lục hợp đồng nêu trên thì không ghi rõ số khối lượng đất vận chuyển cũng như loại đất cụ thể trong hợp đồng. Lý do không ghi rõ là vì Giấy phép khai thác đất của Công ty H2 (là Công ty đã cung cấp đất cho Công ty Đ để Công ty Đ cung cấp lại đất cho Công ty X1 không ghi rõ loại đất). Tuy nhiên nội dung này đã ghi rõ từng loại đất cho Công ty X1 thể hiện tại các Biên bản nghiệm thu khối lượng và giá trị thực hiện và Bảng kê khối lượng từ ngày 26/5/2023 đến ngày 25/6/2023; Bảng kê khối lượng từ ngày 26/6/2023 đến ngày 25/7/2023.
Qua đối chiếu thì Công ty Đ đã xuất cho Công ty X1 tổng cộng 11 hóa đơn. Như vậy, tổng cộng số tiền Công ty Đ đã xuất hóa đơn cho Công ty TNHH X1 (11 hóa đơn) là 6.269.345.200 đồng.
Về khối lượng đất đã cung cấp được thể hiện tại 04 Biên bản nghiệm thu khối lượng và giá trị thực hiện được ký kết giữa đại diện Công ty Đ và Công ty X1 (Biên bản tháng 03/2023 cung cấp khối lượng đất là 1.967,2m3 theo đơn giá loại đất 77.400 đồng/m3 và tiền vận chuyển 79.000 đồng/m3 thành tiền là 307.670.080 đồng; Biên bản tháng 04/2023 cung cấp khối lượng đất là 4.662m3 theo đơn giá loại đất 77.400 đồng/m3 và tiền vận chuyển 79.000 đồng/m3 thành tiền là 729.136.800 đồng; Biên bản tháng 05/2023 cung cấp khối lượng đất là 6.370,8m3 theo đơn giá loại đất 77.400 đồng/m3, tiền vận chuyển 79.000 đồng/m3 và 5.709.6m3 theo đơn giá loại đất 55.000 đồng/m3, tiền vận chuyển 85.000 đồng/m3 thành tiền tổng cộng là 1.795.737.120 đồng; Biên bản tháng 06/2023 cung cấp khối lượng đất là 7.348m3 theo đơn giá loại đất 55.000 đồng/m3 và tiền vận chuyển 85.000 đồng/m3 thành tiền là 1.028.720.000 đồng và Bảng kê khối lượng từ ngày 26/5/2023 đến ngày 25/6/2023 tổng cung cấp khối lượng đất là 15.652,48m3 theo đơn giá loại đất 55.000 đồng/m3 và tiền vận chuyển 85.000 đồng/m3 ra số tiền phải thanh toán là 2.191.347.200 đồng; Bảng kê khối lượng từ ngày 26/6/2023 đến ngày 25/7/2023 tổng cung cấp khối lượng đất là 1.548,10m3 theo đơn giá loại đất 55.000 đồng/m3 và tiền vận chuyển 85.000 đồng/m3 ra số tiền phải thanh toán là 216.734.000 đồng (02 Bảng khối lượng này có chữ ký xác nhận của Kế toán Công ty X1 bà Nguyễn Thị Hồng H1 và có hóa đơn chứng từ kèm theo). Hiện nay Công ty X1 đã thanh toán cho Công ty Đ tổng cộng là: 5.632.544.000 đồng. Cụ thể thanh toán bằng chuyển khoản: ngày 14/02/2023, thanh toán 1.006.200.000 đồng; ngày 28/4/2023, thanh toán 500.000.000 đồng; ngày 04/5/2023, thanh toán 800.000.000 đồng; ngày 21/6/2023, thanh toán 526.344.000 đồng; ngày 06/7/2023, thanh toán 1.500.000.000 đồng; ngày 06/9/2023, thanh toán 500.000.000 đồng; ngày 08/5/2024, thanh toán 800.000.000 đồng. Hiện nay số tiền mà Công ty X1 còn nợ chưa thanh toán cho Công ty Đ theo 11 hóa đơn nêu trên mà Công ty đã xuất cho Công ty X1 là 636.801.200 đồng. Do đó, Công ty Đ yêu cầu Công ty X1 phải thanh toán số tiền nợ gốc 636.801.200 đồng; tiền lãi chậm thanh toán của số tiền 800.000.000 đồng tính từ ngày 27/9/2023 đến ngày 08/5/2024 là 49.095.872 đồng (800.000.000 đồng x 10% : 365 ngày = 219.178 đồng/ngày x 224 ngày = 49.095.872 đồng) và tiền lãi chậm thanh toán của số tiền 636.801.200 đồng tính từ ngày 27/9/2023 đến ngày 20/5/2024 là 41.173.976 đồng (636.801.200 đồng x 10% : 365 ngày = 174.466 đồng/ngày x 236 ngày = 41.173.976 đồng). Tại phiên tòa sơ thẩm, Công ty Đ yêu cầu Công ty X1 phải có nghĩa vụ thanh toán tổng cộng là 765.628.034 đồng. Trong đó: tiền nợ chưa thanh toán là 636.801.200 đồng; tiền lãi chậm thanh toán là 128.826.834 đồng (tiền lãi chậm thanh toán của số tiền 800.000.000 đồng tính từ ngày 27/9/2023 đến ngày 08/5/2024 = 800.000.000 đồng x 10% : 365 ngày = 219.178 đồng/ngày x 224 ngày = 49.095.872 đồng; tiền lãi của số tiền 636.801.200 đồng tính từ ngày 27/9/2023 đến ngày 27/12/2024 = 636.801.200 đồng x 10% : 365 ngày = 174.466 đồng/ngày x 457 ngày =79.730.962 đồng).
- Đại diện theo ủy quyền của bị đơn Công ty X1 là ông Đặng Phước A và ông Trần Viết X cùng thống nhất trình bày: Công ty X1 xác nhận với Công ty Đ các hợp đồng kinh tế, phụ lục hợp đồng về việc cung ứng và vận chuyển đất, về thời gian, giá cả, phương thức thanh toán, khối lượng đất được kiểm tra đối chiếu khối lượng và thể hiện bằng Bảng kê khối lượng và Biên bản nghiệm thu khối lượng và giá trị thực hiện, có xác nhận của đại diện hai bên. Sau khi hai bên chốt số liệu, Công ty X1 xác nhận Công ty Đ xuất hóa đơn giá trị gia tăng cho Công ty X1. Việc thanh toán sẽ được Công ty X1 chuyển khoản vào tài khoản Ngân hàng của Công ty Đ và phía Công ty X1 đã chuyển tiền theo từng đợt (chứ không chuyển tiền theo từng hóa đơn cụ thể hay khối lượng cụ thể). Qua đối chiếu, Công ty X1 thống nhất Công ty Đ đã xuất cho Công ty X1 tổng cộng 11 hóa đơn như Công ty Đ đã trình bày. Về khối lượng đất đã cung cấp được thể hiện tại 04 Biên bản nghiệm thu khối lượng và giá trị thực hiện được ký kết giữa đại diện Công ty TNHH MTV Đ và Đ và Công ty TNHH X1 (Biên bản tháng 03/2023 cung cấp khối lượng đất là 1.967,2m3 theo đơn giá loại đất 77.400 đồng/m3 và tiền vận chuyển 79.000 đồng/m3 thành tiền là 307.670.080 đồng; Biên bản tháng 04/2023 cung cấp khối lượng đất là 4.662m3 theo đơn giá loại đất 77.400 đồng/m3 và tiền vận chuyển 79.000 đồng/m3 thành tiền là 729.136.800 đồng; Biên bản tháng 05/2023 cung cấp khối lượng đất là 6.370,8m3 theo đơn giá loại đất 77.400 đồng/m3, tiền vận chuyển 79.000 đồng/m3 và 5.709.6m3 theo đơn giá loại đất 55.000 đồng/m3, tiền vận chuyển 85.000 đồng/m3 thành tiền tổng cộng là 1.795.737.120 đồng; Biên bản tháng 06/2023 cung cấp khối lượng đất là 7.348m3 theo đơn giá loại đất 55.000 đồng/m3 và tiền vận chuyển 85.000 đồng/m3 thành tiền là 1.028.720.000 đồng và Bảng kê khối lượng từ ngày 26/5/2023 đến ngày 25/6/2023 tổng cung cấp khối lượng đất là 15.652,48m3 theo đơn giá loại đất 55.000 đồng/m3 và tiền vận chuyển 85.000 đồng/m3 ra số tiền phải thanh toán là 2.191.347.200 đồng; Bảng kê khối lượng từ ngày 26/6/2023 đến ngày 25/7/2023 tổng cung cấp khối lượng đất là 1.548,10m3 theo đơn giá loại đất 55.000 đồng/m3 và tiền vận chuyển 85.000 đồng/m3 ra số tiền phải thanh toán là 216.734.000 đồng (02 Bảng khối lượng này có chữ ký xác nhận của kế toán Công ty X1 là bà Nguyễn Thị Hồng H1 và có hóa đơn chứng từ kèm theo). Hiện nay Công ty X1 đã thanh toán cho Công ty Đ số tiền tổng cộng là: 5.632.544.000 đồng. Cụ thể thanh toán bằng chuyển khoản: Ngày 14/02/2023, thanh toán 1.006.200.000 đồng; ngày 28/4/2023, thanh toán 500.000.000 đồng; ngày 04/5/2023, thanh toán 800.000.000 đồng; ngày 21/6/2023 thanh toán 526.344.000 đồng; ngày 06/7/2023, thanh toán 1.500.000.000 đồng; ngày 06/9/2023, thanh toán 500.000.000 đồng; ngày 08/5/2024, thanh toán 800.000.000 đồng. Hiện nay số tiền mà Công ty X1 còn nợ chưa thanh toán cho Công ty Đ là 636.801.200 đồng. Tuy nhiên, về đơn giá đất giữa số tiền theo đơn giá xuất của các hóa đơn và đơn giá thỏa thuận tại hợp đồng chưa thống nhất. Do vậy, trong quá trình thực hiện hợp đồng giữa hai bên đã có những thỏa thuận về đơn giá đất cung cấp khác nên mới có việc vào ngày 29/12/2023, Công ty Đ đã gửi Giấy đề nghị thanh toán cho Công ty X1 để xác định số tiền mà Công ty X1 còn phải thanh toán đến ngày 29/12/2023 là 1.223.601.200 đồng; sau ngày 29/12/2023, Công ty X1 đã tiếp tục thanh toán cho Công ty Đ số tiền 800.000.000 đồng theo ủy nhiệm chi ngày 08/5/2024. Như vậy, nếu theo thông báo này thì Công ty X1 chỉ còn nợ Công ty Đ số tiền 423.601.200 đồng; đối với số tiền lãi mà Công ty Đ yêu cầu thì Công ty X1 đề nghị không tính lãi.
Do vụ án trước đây đã được giải quyết trong vụ án thụ lý số: 08/2024/TLST-KDTM ngày 30/01/2024 của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ theo Quyết định đình chỉ số: 03/2024/QĐST-KDTM ngày 25/3/2024 nên Công ty đề nghị Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ đình chỉ giải quyết vụ án thụ lý số: 41/2024/TLST- KDTM ngày 09 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán” giữa nguyên đơn Công ty Đ với bị đơn Công ty X1 do vụ án đã được giải quyết trước đây. Việc khởi kiện của Công ty Đ là không có tình tiết mới phát sinh theo quy định tại khoản 1 Điều 218 Bộ luật tố tụng dân sự.
Với nội dung nói trên, Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số: 15/2024/KDTM-ST ngày 27 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng đã xử và quyết định: Căn cứ: Điều 4, Điều 24, Điều 50, Điều 55, Điều 306 Luật Thương mại 2005; Điều 357, 398, 468 Bộ luật Dân sự 2015; Điều 30; Điều 147, khoản 2 Điều 227; Điều 266 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH MTV Đ và TM Ngân My đối với Công ty TNHH X1 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán”.
Buộc Công ty TNHH X1 phải trả cho Công ty TNHH MTV Đ và TM Ngân My số tiền chưa thanh toán còn nợ theo 02 Hợp đồng kinh tế số: 01/2023/HĐKT/NMY-HV cùng ngày 07/01/2023 và Phụ lục hợp đồng số: PL 01/2023/ HĐKT/NMY-HV ngày 16/4/2023 về việc cung cấp đất được ký kết giữa Công ty TNHH MTV Đ và TM Ngân My với Công ty TNHH X1 và tiền lãi do chậm thực hiện việc thanh toán tính đến ngày xét xử 27/12/2024 là 499.894.612 đồng (Bốn trăm chín mươi chín triệu, tám trăm chín mươi bốn ngàn, sáu trăm mười hai đồng). Trong đó số tiền chưa thanh toán là 423.601.200 đồng; tiền lãi do chậm thực hiện việc thanh toán tính đến ngày xét xử 27/12/2024 là 76.293.412 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (Ngày 28/12/2024) Công ty TNHH X1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn nợ chưa thanh toán theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chậm trả cho đến khi thanh toán xong.
- Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH MTV Đ và TM Ngân My đối với Công ty TNHH X1 về việc buộc Công ty TNHH X1 thanh toán số tiền nợ gốc chưa thanh toán và nợ lãi chậm trả tính đến ngày xét xử 27/12/2024 là 265.733.422 đồng (Hai trăm sáu mươi lăm triệu, bảy trăm ba mươi ba ngàn, bốn trăm hai mươi hai triệu). Trong đó nợ gốc chưa thanh toán là 213.200.000 đồng và nợ lãi chậm trả số tiền là 52.533.422 đồng.
- Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Công ty TNHH X1 phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 23. 995.784 đồng. Công ty TNHH MTV Đ và TM Ngân My phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 13.286.671 đồng và được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 16.541.420 đồng đã nộp tại Biên lai thu số 0001699 ngày 04/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cầm Lệ. Công ty TNHH MTV Đ và Đ còn được hoàn trả tiền tạm ứng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 3.254.749 đồng.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn thông báo quyền kháng cáo cho các đương sự biết theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 09/01/2025, Công ty Đ là nguyên đơn có Đơn kháng cáo với nội dung: Thực tế, Công ty Đ chốt số liệu và gửi Giấy đề nghị thanh toán vào ngày 29/12/2023 thì số liệu này không chính xác do nhầm lẫn của kế toán Công ty Đ. Vì vậy mới gửi đề nghị Công ty X1 thanh toán số tiền còn nợ là 1.223.601.200 đồng. Vào tháng 01/2024, Công ty Đ thực hiện rà soát lại các số liệu để phục vụ cho quá trình tham gia tố tụng thì nhận thấy sai sót, số liệu không đúng công nợ, đồng thời trong quá trình khởi kiện Công ty đã thiếu sót trong việc không yêu cầu tính lãi chậm thanh toán nên đã rút đơn khởi kiện để hoàn tất hồ sơ khởi kiện đúng với số liệu thực tế sau khi kiểm tra được thể hiện ở Biên bản nghiệm thu khối lượng và giá trị thực hiện và B kê khối lượng có ký xác nhận của đại diện hai bên cùng & TM với 11 hóa đơn giá trị gia tăng mà Công ty Đ đã xuất cho Công ty X1. Việc Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử như trên là không đúng bản chất sự việc và không đúng pháp luật gây thiệt hại về tài sản cho Công ty Đ. Vì vậy, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa một phần Bản án kinh doanh thương mại theo hướng chấp nhận đơn khởi kiện về toàn bộ yêu cầu trả nợ của nguyên đơn Công ty Đ. Buộc Công ty X1 phải trả số tiền chưa thanh toán cho chúng tôi là 636.801.200 đồng và tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán đối với số tiền nêu trên theo quy định pháp luật.
Ngày 10/01/2025, Công ty X1 là bị đơn có Đơn kháng cáo hủy toàn bộ Bản án sơ thẩm do đã có quá nhiều sai phạm với lý do: Ngày 27/12/2024, Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ đã đưa vụ án ra xét xử trong khi vụ án này đã được Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ đã ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số: 03/2024/QDST-KDTM ngày 25/03/2024 do Nguyên đơn là Công ty Đ tự nguyện rút đơn khởi kiện. Sau đó, Tòa án lại tiếp tục thụ lý và đưa vụ án ra xét xử, ban hành Bản án không đúng qui định, thu án phí và tính lãi chậm trả sai đối với số tiền 800.000.000 đồng do Công ty X1 đã trả cho Công ty Đ trước khi Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ thụ lý giải quyết lần 02 và Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ đã xét xử. Nội dung nhận định và tuyên xử của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ không đúng qui định của pháp luật, không phù hợp với thực tế quan hệ giao dịch, ký kết và thực hợp đồng; các quyết định tại Bản án sơ thẩm không phù hợp nội dung, diễn biến của vụ án; không xem xét ý kiến của đại diện bị đơn; các chứng cứ là Hóa đơn chứng từ trong vụ kiện do bên nguyên đơn khởi kiện và cung cấp kèm theo đơn khởi kiện lại lần thứ 2 ngày 20/5/2024 đã xâm hại đến quyền và lợp ích hợp pháp của Công ty X1. Thứ nhất, đề nghị xem xét tư cách khởi kiện của nguyên đơn về việc mua bán đất san lấp công trình, bởi nguyên đơn theo Giấy Chứng nhận đăng ký kinh doanh không có chức năng kinh doanh vật liệu san lấp, nếu có thì phải ký Hợp đồng mua lại từ chủ mỏ đất, nếu không có hợp đồng mua bán đất giữa Công ty Đ với chủ mỏ đất là Công ty TNHH H2, không có Hóa đơn giá trị gia tăng được xuất cho Công ty Đ từ Công ty TNHH H2 thì đây là hành vi trốn thuế cần phải bị xử lý theo qui định. Thứ hai, đối với nội dung quyết định của Bản án về số tiền lãi chậm trả phát sinh từ số tiền 800.000.000 đồng x 7,47%/năm x 224 ngày (tính từ ngày 27/9/2023 đến ngày 08/5/2024): 36.674.630 đồng là không có căn cứ. Để thể hiện sự thiện chí, Công ty X1 đã thực hiện việc thanh toán số tiền 800.000.000 đồng cho Công ty Đ. Đồng thời Công ty X1 đã có Công văn số: 06/CV-HV ngày 09/05/2024 gửi Công ty Đ thông báo về việc đã thanh toán số tiền nêu trên và nếu Công ty Đ có ý kiến gì thì đề nghị gặp mặt, trao đổi về việc thanh lý hợp đồng, cùng nhau ký Biên bản đối chiếu công nợ, giải trình lý do các Hóa đơn VAT do Công ty Đ xuất không đúng với đơn giá ghi trên Hợp đồng và Phụ lục hoặc có Công văn phản hồi cho Công ty X1 biết, phía Công ty X1 nhưng Công ty Đ cố tình không phản hồi, thiếu thiện chí và tiếp tục khởi kiện.Vì vậy, quyết định của Bản án sơ thẩm buộc Công ty X1 phải chịu số tiền lãi chậm trả 36.674.630 đồng phát sinh từ số tiền 800.000.000 đồng này là không phù hợp với sự thật khách quan của vụ án. Thứ ba, đối với quyết định của Bản án về số tiền lãi chậm trả phát sinh từ số tiền 423.601.200 đồng x 7,47%/năm x 457 ngày (tính từ ngày 27/9/2023 đến ngày 27/12/2024): 39.618.782 đồng là không phù hợp. Việc Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ xác định thời điểm phát lãi chậm trả đối với số tiền chưa thanh toán là từ ngày 27/09/2023 chứ không phải từ thời điểm thụ lý vụ án với tổng số ngày tính tiền lãi chậm trả là 457 ngày là không phù hợp với qui định gây ảnh hưởng đến quyền và lợp ích hợp pháp của Công ty X1. Thứ tư: Về nghĩa vụ của các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng. Không đủ căn cứ để xác định nguồn gốc đất của Công ty Đ bán cho Công ty X1 có phải thực tế từ mỏ Hố Mùn 2 hay không ? Hay là đất không rõ nguồn gốc được Công ty Đ tập kết và bán, xuất Hóa đơn cho Công ty X1 để hợp thức hóa nguồn gốc và thu lợi bất chính? Như vậy, trong trường hợp này, lỗi ở đây hoàn toàn thuộc về phía nguyên đơn là Công ty Đ do không cung cấp được hồ sơ nguồn gốc đất cung cấp, không chịu thực hiện việc đối chiếu công nợ để Công ty X1 thực hiện việc không phải do Công ty X1 cố tình không chịu trả nợ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên toà, sau khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến, sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:
[I] Xét kháng cáo của Công ty Đ và Công ty X1 thì thấy:
[1] Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số: 03/2024/QDST-KDTM ngày 25/3/2024 do nguyên đơn là Công ty Đ tự nguyện rút đơn khởi kiện. Tại thông báo thụ lý vụ án số: 08/TLST-KDTM ngày 30/01/2024, Công ty Đ yêu cầu Công ty X1 phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền 1.223.601.200 đồng căn cứ vào Giấy đề nghị thanh toán vào ngày 29/12/2023 gửi đề nghị Công ty X1 thanh toán số tiền còn nợ là 1.223.601.200 đồng. Do đó, theo Công ty X1 cho rằng Công ty Đ yêu cầu Công ty X1 thanh toán số tiền nợ 1.436.801.200 đồng là không đúng. HĐXX xét thấy: Việc Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ đình chỉ giải quyết vụ án do Công ty Đ rút đơn khởi kiện và Công ty Đ được quyền khởi kiện lại theo quy định tại khoản 1 Điều 218 Bộ luật tố tụng dân sự. Hơn nữa, Giấy đề nghị thanh toán vào ngày 29/12/2023 gửi Công ty X1 không phải là Biên bản đối chiếu công nợ, Công ty Đ có quyền khởi kiện lại vụ án, cơ bản là số tiền Công ty Đ yêu cầu có căn cứ chấp nhận hay không có căn cứ chấp nhận.
[2] Xét về Hợp đồng kinh tế: Vào ngày 07/01/2023, Công ty Đ và Công ty X1 có ký kết Hợp đồng kinh tế số: 01/2023/HĐKT/NMY-HV ngày 07/01/2023 về việc cung cấp đất với đơn giá 77.400 đồng/m3 (loại đất làm đường). Tổng giá cung cấp đất và vận chuyển là 156.400 đồng/m3. Hợp đồng kinh tế số: 01/2023/HĐKT/NMY-HV ngày 07/01/2023 và phụ lục hợp đồng số PL 01/2023/HĐKT/NMY-HV ngày 16/4/2023 về việc cung cấp đất với đơn giá 55.000 đồng/m3 (loại đất san lấp mặt bằng). Theo đó, Công ty Đ sẽ cung cấp và vận chuyển các loại đất theo các hợp đồng đến vị trí chân công trình của Công ty X1 thuộc Dự án Khu TĐC phục vụ Làng Đ phường H, quận N, thành phố Đà Nẵng nên phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên. Cấp sơ thẩm xác định Công ty Đ là nguyên đơn và Công ty X1 là bị đơn trong vụ án là hoàn toàn đúng. Còn Công ty TNHH H2 Huy Cường T là chủ mỏ đất có ký kết với Công ty Đ là quan hệ dân sự khác, giữa hai bên không phát sinh tranh chấp nên không phải là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
[3] Công ty X1 cho rằng Công ty Đ cung cấp và vận chuyển đất không xác định nguồn gốc đất nên Công ty X1 không đồng ý trả tiền. HĐXX xét thấy: Công ty Đ đã cung cấp và vận chuyển đất cho Công ty X1 đã được hai bên đối chiếu, nghiệm thu khối lượng, đưa vào sử dụng. Công ty X1 đã thanh toán cho Công ty Đ 5.632.544.000 đồng và cả quá trình làm việc với nhau Công ty X1 không có ý kiến gì. Hơn nữa, tại Công văn số: 871/CSĐT-KT ngày 11/11/2024 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an quận C đã phúc đáp cho Tòa án việc Công ty Đ đã cung cấp đầy đủ hồ sơ nguồn gốc đất... Việc ký hợp đồng mua bán đất, xuất hóa đơn VAT của Công ty Đ theo đơn đề nghị điều tra của Công ty X1 không có dấu hiệu tội phạm...Do đó, Công ty X1 kháng cáo nội dung xem xét nguồn gốc đất là không có cơ sở chấp nhận.
[4] Giữa Công ty Đ và Công ty X1 có ký kết Hợp đồng kinh tế về việc cung cấp đất và vận chuyển được thể hiện mỗi loại giá khác nhau trong 02 hợp đồng kinh tế và 01 phụ lục hợp đồng. Công ty Đ và Công ty X1 đã đối chiếu với nhau được thể hiện tại 04 Biên bản nghiệm thu khối lượng và giá trị thực hiện được ký kết giữa đại diện Công ty Đ và Công ty X1 cùng 02 Bảng khối lượng có chữ ký xác nhận của kế toán Công ty X1 là bà Nguyễn Thị Hồng H1 và được Công ty X1 thừa nhận, không có ý kiến gì. Đối chiếu bảng khối lượng đã được hai bên nghiệm thu cho thấy:
[4.1] Biên bản nghiệm thu khối lượng và giá trị thực hiện tháng 03/2023: Đất, khối lượng 1.967,2m3, đơn giá 77.400 đồng. Thành tiền: 152.261.280 đồng; vận chuyển đất đến chân công trình: đơn giá 79.000 đồng. Thành tiền: 155.408.800 đồng. (Do người đại diện theo pháp luật 2 Công ty ký xác nhận). Tổng cộng: 307.670.080 đồng.
[4.2] Biên bản nghiệm thu khối lượng và giá trị thực hiện tháng 04/2023: Đất, khối lượng 4.662m3, đơn giá 77.400 đồng. Thành tiền: 360.838.800 đồng; vận chuyển đất đến chân công trình: đơn giá 79.000 đồng. Thành tiền: 368.298.000 đồng. (Do người đại diện theo pháp luật 2 Công ty ký xác nhận). Tổng cộng: 729.136.800 đồng.
[4.3] Biên bản nghiệm thu khối lượng và giá trị thực hiện tháng 05/2023: Đất, khối lượng 6.370,8m3, đơn giá 77.400 đồng. Thành tiền: 493.099.920 đồng; vận chuyển đất đến chân công trình: đơn giá 79.000 đồng. Thành tiền: 503.293.200 đồng. Đất, khối lượng 5.709,6m3, đơn giá 55.000 đồng. Thành tiền: 314.028.000 đồng; vận chuyển đất đến chân công trình: đơn giá 85.000 đồng. Thành tiền: 485.316.000 đồng. (Do người đại diện theo pháp luật 2 Công ty ký xác nhận). Tổng cộng: 1.795.737.120 đồng.
[4.4] Bảng kê khối lượng đất từ ngày 26/5/2023 đến ngày 25/6/2023: Đất, khối lượng 15.652,48m3. (Do người đại diện Công ty X1 là bà Nguyễn Thị Hồng H1 kế toán xác nhận).
[4.5] Bảng kê khối lượng đất từ ngày 26/6/2023 đến ngày 25/7/2023: Đất, khối lượng 1.548,1m3. (Do người đại diện Công ty X1 là bà Nguyễn Thị Hồng H1 kế toán xác nhận).
[4.6] Biên bản nghiệm thu khối lượng và giá trị thực hiện tháng 06/2023: Đất, khối lượng 7.348m3, đơn giá 55.000 đồng. Thành tiền: 404.140.000 đồng; vận chuyển đất đến chân công trình: đơn giá 85.000 đồng. Thành tiền: 624.580.000 đồng. (Do người đại diện theo pháp luật 2 Công ty ký xác nhận). Tổng cộng: 1.028.720.000 đồng.
[5] Như vậy, các khối lượng trên đã được 2 bên đối chiếu, ký xác nhận. Trên cơ sở đó, Công ty Đ xuất hóa đơn. Theo Công ty Đ cung cấp thì việc xuất hóa đơn có gửi thông tin qua địa chỉ mail của Công ty X1 và Công ty X1 cũng đã thừa nhận Công ty Đ đã xuất cho Công ty X1 tổng cộng 11 hóa đơn. Cụ thể: Hóa đơn số 9 ngày 14/02/2023 với số tiền 1.006.200.000 đồng. Hóa đơn số 00000036 ngày 25/5/2023 với số tiền 1.027.000.000 đồng. Hóa đơn số 00000038 ngày 26/5/2023 với số tiền 485.316.000 đồng. Hóa đơn số 00000037 ngày 26/5/2023 với số tiền 314.028.000 đồng. Hóa đơn số 00000061 ngày 26/6/2023 với số tiền 404.140.000 đồng. Hóa đơn số 00000062 ngày 26/6/2023 với số tiền 624.580.000 đồng. Hóa đơn số 00000084 ngày 30/6/2023 với số tiền 750.886.400 đồng. Hóa đơn số 00000085 ngày 30/6/2023 với số tiền 1.160.460.800 đồng. Hóa đơn số 00000083 ngày 30/6/2023 với số tiền 280.000.000 đồng. Hóa đơn số 00000139 ngày 27/9/2023 với số tiền 131.588.500 đồng. Hóa đơn số 00000138 ngày 27/9/2023 với số tiền 85.145.500 đồng.
[6] Tất cả 04 biên bản nghiệm thu được hai bên đối chiếu khối lượng, đơn giá và có số tiền cụ thể. Riêng 02 bảng kê khối khối lượng đất 15.652,48m3 và Bảng kê khối lượng đất 1.548,1m3, Công ty Đ cung cấp đất thì sẽ vận chuyển đất đến chân công trình nên căn cứ vào giá của hợp đồng kinh tế đã ký kết giữa hai bên và việc xuất hóa đơn thuế giá trị gia tăng của Công ty Đ thì thấy:
[6.1] Tại bảng kê khối khối lượng đất và vận chuyển 15.652,48m3 được xuất:
- * Hóa đơn số 00000083 ngày 30/6/2023, khối lượng: 2.000m3: Tiền đất: 55.000 đồng/m3 x 2000m3 = 110.000.000 đồng. Tiền vận chuyển: 85.000 đồng/m3 x 2.000m3 = 170.000.000 đồng. Tổng cộng: 280.000.000 đồng.
- * Hóa đơn số 00000084 ngày 30/6/2023, khối lượng 13.652,48m3: tiền đất: 55.000 đồng/m3 x 13.652,48m3 = 750.886.400 đồng.
- * Hóa đơn số 00000085 ngày 30/6/2023, khối lượng 13.652,48m3: Tiền vận chuyển: 85.000 đồng/m3 x 13.652,48m3 = 1.160.460.800 đồng.
[6.2] Tiền vận chuyển 1.160.460.800 đồng + 170.000.000 đồng = 1.330.460.800 đồng. Tiền đất: 750.886.400 đồng + 110.000.000 đồng = 860.886.400 đồng.
[6.3] Như vậy số tiền tính từ khối lượng đối chiếu với số tiền xuất hóa đơn là trùng khớp.
[6.4] Tại bảng kê khối khối lượng đất và vận chuyển 1.548,1m3 được xuất:
- * Hóa đơn số 00000138 ngày 27/9/2023, khối lượng: 1.548,1m3. Tiền đất: 55.000 đồng/m3 x 1.548,1m3 = 85.145.500 đồng.
- * Hóa đơn số 00000139 ngày 27/9/2023, khối lượng: 1.548,1m3. Tiền vận chuyển: 85.000 đồng/m3 x 1.548,1m3 = 131.588.500 đồng.
[6.5] Như vậy số tiền tính từ khối lượng đối chiếu với số tiền xuất hóa đơn là trùng khớp.
[7] Căn cứ vào giá đất của 02 hợp đồng kinh tế và phụ lục hợp đồng kinh tế đã ký kết thì giá đất 55.000 đồng/m3 là một trong các loại có đơn giá thấp hơn giá 77.400 đồng/m3. Đây là giá đất tại mỏ Hố Mùn 2 là phù hợp với hợp đồng kinh tế hai bên đã ký kết. Giá vận chuyển 85.000 đồng/m3 là thấp hơn giá 156.400 đồng/m3; 140.000 đồng/m3; 145.000 đồng/m3. Vì vậy, việc Công ty Đ tính giá trên là có lợi cho Công ty X1. Công ty X1 cho rằng việc đơn giá đất và giá vận chuyển được hai bên thỏa thuận với giá thấp hơn các đơn giá đã ký kết trong hợp đồng kinh tế nhưng không có tài liệu nào chứng minh ngoài đơn giá đó còn có đơn giá khác do hai bên thỏa thuận. Do vậy, tổng số tiền Công ty Đ đã cung cấp đất và vận chuyển đến chân công trình là: 6.269.345.200 đồng. Công ty X1 đã thanh toán cho Công ty Đ thông qua hình thức chuyển khoản và được Công ty Đ xác nhận là: 5.632.544.000 đồng. Do vậy, việc cấp sơ thẩm xác định Công ty X1 phải thanh toán cho Công ty Đ số tiền 423.601.200 đồng là không có cơ sở. Do đó, sau khi tính trừ đi số tiền đã thanh toán thì Công ty X1 còn nợ Công ty Đ là: 636.801.200 đồng mới đúng.
[8] Xét yêu cầu tính lãi thì thấy: Đối với số tiền lãi chậm thanh toán của số tiền 800.000.000 đồng tính từ ngày 27/9/2023 đến ngày xét xử là 27/12/2024 và tiền lãi chậm thanh toán của số tiền 636.801.200 đồng tính từ ngày 27/9/2023 đến ngày xét xử là 27/12/2024 thì thấy: Mặc dù 800.000.000 đồng đã được Công ty X1 chuyển trả cho Công ty Đ theo ủy nhiệm chi ngày 08/5/2024, nhưng thời điểm trước đó, Công ty X1 đã vi phạm nghĩa vụ chậm thanh toán nên việc Công ty Đ yêu cầu tính lãi là có căn cứ. Sau khi hai bên thống nhất đối chiếu khối lượng đất và vận chuyển đất thì thời điểm kết thúc là tháng 07/2023. Tuy nhiên, Công ty Đ yêu cầu tính lãi bắt đầu từ ngày cuối của xuất hóa đơn là ngày 27/9/2023 cho đến ngày xét xử sơ thẩm là có lợi cho Công ty X1 nên chấp nhận. Mặt khác, việc cấp sơ thẩm áp dụng mức lãi suất quá hạn trung bình của 03 Ngân hàng N - Chi nhánh quận C, Ngân hàng TMCP C1 - Chi nhánh Đ và Ngân hàng TMCP N1 - Chi nhánh Đ là : (7% + 9,5% + 5,9%)/3 = 7,47%/năm là chưa phù hợp. Vì quá hạn nên cần phải nhân thêm 150%. Như vậy, mức lãi suất là 11,2% mới đúng. Tuy nhiên, Công ty Đ yêu cầu tính mức lãi suất 10%/năm là có lợi cho bị đơn nên chấp nhận. Do vậy, tiền lãi chậm thanh toán của số tiền 800.000.000 đồng tính từ ngày 27/9/2023 đến ngày 08/5/2024 = 800.000.000 đồng x 10% : 365 ngày = 219.178 đồng/ngày x 224 ngày = 49.095.872 đồng; tiền lãi của số tiền 636.801.200 đồng tính từ ngày 27/9/2023 đến ngày 27/12/2024 = 636.801.200 đồng x 10% : 365 ngày = 174.466 đồng/ngày x 457 ngày = 79.730.962 đồng. Như vậy, cần buộc Công ty X1 phải có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty Đ số tiền nợ là: 636.801.200 đồng và tiền lãi chậm thanh toán là 128.826.834 đồng. Tổng cộng gốc và lãi: 765.628.034 đồng.
[9] Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ngày 28/12/2024, Công ty X1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn nợ chưa thanh toán theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chậm trả cho đến khi thanh toán xong.
[10] Tại phiên tòa phúc thẩm, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn đề nghị Căn cứ vào Hợp đồng kinh tế số: 01/2023/HĐKT/NMY-HV ngày 07/01/2023; Hợp đồng kinh tế số: 01/2023/HĐKT/NMY-HV ngày 07/01/2023 và phụ lục hợp đồng số: PL 01/2023/HĐKT/NMY-HV ngày 16/4/2023. Công ty Đ đã xuất cho Công ty X1 là 6.269.345.200 đồng. Hiện nay Công ty X1 đã thanh toán cho Công ty Đ số tiền là 5.632.544.000 đồng nên Luật sư đề nghị chấp nhận kháng cáo của Công ty Đ, buộc Công ty X1 phải trả cho Công ty Đ là: 636.801.200 đồng và tiền lãi chậm thanh toán là 128.826.834 đồng. Tổng cộng gốc và lãi: 765.628.034 đồng. Xét quan điểm của Luật sư là phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận.
[11] Từ những nhận định trên, HĐXX xét thấy có cơ sở chấp nhận kháng cáo của Công ty Đ.
[12] Không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của Công ty X1.
[13] Án phí KDTM-ST: Các đương sự phải chịu án phí theo quy định.
[14] Do chấp nhận kháng cáo nên Công ty Đ không phải chịu án phí KDTM-PT. Do không chấp nhận kháng cáo nên Công ty X1 phải chịu án phí KDTM-PT.
[15] Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án kinh doanh thương mại ở giai đoạn phúc thẩm và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, Sửa Bản án sơ thẩm số: 15/2024/KDTM-ST ngày 27 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng theo hướng chấp nhận kháng cáo của Công ty Đ. Buộc Công ty X1 phải trả cho Công ty Đ là: 636.801.200 đồng và tiền lãi chậm thanh toán là 128.826.834 đồng. Tổng cộng gốc và lãi: 765.628.034 đồng. Không chấp nhận kháng cáo của Công ty X1. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 55, 306 Luật Thương mại 2005; Điều 357, 398, 468 Bộ luật dân sự 2015; Án lệ số 09/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân nhân tối cao thông qua ngày 17/10/2016 và được công bố theo Quyết định số: 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân nhân tối cao; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận kháng cáo của Công ty TNHH MTV Đ và TM Ngân My đối với Công ty TNHH X1.
- Không chấp nhận kháng cáo của Công ty TNHH X1 đối với Công ty TNHH MTV Đ.
- Sửa Bản án sơ thẩm số: 15/2024/KDTM-ST ngày 27 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH MTV Đ và TM Ngân My đối với Công ty TNHH X1 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán”.
- Buộc Công ty TNHH X1 phải có nghĩa vụ trả cho Công ty TNHH MTV Đ và TM Ngân My số tiền nợ chưa thanh toán do cung cấp đất và vận chuyển đất là: 636.801.200 đồng và tiền lãi chậm thanh toán là 128.826.834 đồng. (trong đó: tiền lãi chậm thanh toán của số tiền 800.000.000 đồng tính từ ngày 27/9/2023 đến ngày 08/5/2024 là 49.095.872 đồng; tiền lãi của số tiền 636.801.200 đồng tính từ ngày 27/9/2023 đến ngày 27/12/2024 là 79.730.962 đồng). Tổng cộng gốc và lãi: 765.628.034 đồng.
- Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ngày 28/12/2024, Công ty TNHH X1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn nợ chưa thanh toán theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chậm trả cho đến khi thanh toán xong.
- Án phí KDTM-ST: Công ty TNHH X1 phải chịu là 34.625.121 đồng. Hoàn trả lại cho Công ty TNHH MTV Đ và TM Ngân My số tiền tạm ứng án phí 16.541.420 đồng đã nộp tại Biên lai thu số 0001699 ngày 04/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
- Án phí KDTM-PT: Công ty TNHH X1 phải chịu 2.000.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 2.000.000 đồng theo biên lai thu số 0009516 ngày 17/01/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng. Hoàn trả lại cho Công ty TNHH MTV Đ và TM Ngân My số tiền tạm ứng án phí đã nộp 2.000.000 đồng theo biên lai thu số 0009512 ngày 15/01/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Bé |
Bản án số 34/2025/KDTM-PT ngày 12/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp hợp đồng mua bán
- Số bản án: 34/2025/KDTM-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/06/2025
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phúc thẩm Cty Ngân My - Công ty Hòa Vang
