Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TUY PHONG

TỈNH BÌNH THUẬN

Bản án số: 34/2025/HSST

Ngày: 28/3/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG, TỈNH BÌNH THUẬN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

-Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ông Lý Văn Lấy

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Lê Hưng Quang

2/ Ông Nguyễn Thông Thái

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: ông Đắc Quốc Tuân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong

Đại diện Viện kiểm sát huyện Tuy Phong tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Văn Thìn - Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 103/2024/TLST-HS, ngày 01 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Thị T; giới tính: Nữ; Sinh ngày 01/11/1986, tại tỉnh Lâm Đồng; Nơi thường trú: ấp T, xã Q, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Chỗ ở: Không có nơi ở rõ ràng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 8/12.

Tiền án: 01, ngày 19/5/2023 bị Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xử phạt 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 tháng “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, (chưa xóa án tích);

Tiền sự: không

Hoạt động nhân thân của bị cáo: Ngày 20/9/2023 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N khởi tố về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;

Cha: Trần Văn G năm 1962; Mẹ: Trần Thị H năm 1960, hiện ở: thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; Achị, em ruột: có 03 người, lớn nhất sinh năm 1981, nhỏ nhất sinh năm 1988; Chồng: Bùi Khắc Thái Thành T1sinh năm 1984, hiện ở: ấp T, xã Q, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng TàuCon: có 01 người sinh năm 2007.

Bị cáo Trần Thị T đang bị tạm giam trong một vụ án khác tại Phân Trại tạm giam Khu vực thành phố N, tỉnh Khánh HòaCó mặt

- Người bị hại:

  1. Bà Lê Thị H1 năm 1954; Địa chỉ: khu phố G, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận Có mặt
  2. Bà Nguyễn Lê T1 năm 1987; Địa chỉ: khu phố G, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận; Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Ngày 28/5/2023, đối tượng tên T3 chưa rõ lai lịch hẹn gặp Trần Thị T2 năm 1986, trú tại: ấp T, xã Q, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tại thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình ThuậnTgặp T3 và hai đối tượng khác tên T4Pchưa rõ lai lịch. Tại đây T3 đưa tiền cho T3 T4đi mua vàng. Đến khoảng 10 giờ 30 phút ngày 28/5/2023, T4điều khiển xe mô tô chở Tđến tiệm V do bà Lê Thị H2 làm chủ thuộc Khu phố G, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuậnmục đích để mua vàng, sau đó làm vàng giả cùng đặc điểm để lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tvà T4vào tiệm mua 01 sợi dây chuyền vàng Y 980 khối lượng 01 lượng và 01 sợi lắc vàng Y 980 khối lượng 05 chỉ với tổng số tiền là 83.000.000 đồng. Sau khi mua vàng xong, T3 T4gặp T3 để đưa dây chuyền và lắc vàng mua được cho T5Đầu tháng 6/2023, T3 hẹn gặp Ttại thành phố N, tỉnh Khánh Hòakhi đến nơi Tgặp T3, T4PTại đây T3 đưa cho T01 lắc tay và 01 sợi dây chuyền bằng vàng giả cùng đặc điểm và khối lượng với sợi dây chuyền và lắc tay vàng Tvà T4mua tại tiệm V vào ngày 28/05/2023. Đến khoảng 10 giờ 40 phút ngày 07/06/2023, bà Nguyễn Lê T4, sinh năm 1987, trú tại: Khu phố G, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuậnlà con gái của bà Lê Thị H3 bán hàng tại tiệm V thì T4điều khiển xe mô tô chở Tđem theo 01 sợi dây chuyền và 01 chiếc lắc tay đến thế chấp, T4đứng ở ngoài còn Tvào bên trong tiệm vàng. Khi thế chấp T5 ra 01 hóa đơn mua chiếc lắc tay và sợi dây chuyền tại tiệm V vào ngày 28/5/2023. Sau khi bà T4 xem sợi dây chuyền và chiếc lắc tay thấy đặc điểm và cân nặng phù hợp với thông tin ghi trên hóa đơn bán vàng của tiệm V vào ngày 28/5/2023 nên bà T4 đồng ý cho Trần Thị T6 chấp sợi dây chuyền và chiếc lắc tay với tổng số tiền là 70.000.000 đồng. Sau khi chiếm đoạt được số tiền 70.000.000 đồng, T4điều khiển xe mô tô chở Tđi gặp T3 và PTđưa cho T3 số tiền 70.000.000 đồng lừa đảo được, Tđược T3 chia 5.000.000 đồng từ số tiền trên và đã tiêu xài cá nhân hết. Đối với bà Nguyễn Lê T4 sau khi nhận thế chấp đã bỏ sợi dây chuyền và chiếc lắc trên vào két sắt để cất. Đến ngày 08/6/2023, bà Lê Thị H4 trên báo thì thấy có thông tin về một nhóm đối tượng sử dụng vàng giả để đi lừa đảo chiếm đoạt tài sản các tiệm vàng vì vậy đến ngày 09/6/2023 bà Lê Thị H5 sợi dây chuyền và chiếc lắc đã nhận cầm cố vào ngày 07/6/2023 đi kiểm tra tại Công ty K ở Thành phố Hồ Chí Minh thì được xác định là vàng giả, bà Lê Thị H5 sợi dây chuyền và chiếc lắc trên đi trình báo và giao nộp cho cơ quan công an.

Ngày 21/06/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T của bà Lê Thị H6 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng có ký hiệu "KM980CH" và 01 lắc tay bằng kim loại màu vàng có ký hiệu "KM980TAI". Ngày 27/6/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T giám định số 130 gửi Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, giám định thành phần và khối lượng 01 sợi dây chuyền và 01 lắc tay bằng kim loại màu vàng nêu trên. Ngày 10/7/2023 Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh có bản kết luận giám định số 4296/KL-KTHS, kết luận:

  • Mẫu M1 là Sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng có khối lượng 37,5076gam, chứa thành phần kim loại chính là B(Ahàm lượng Bạc trung bình: 99,06% (dây chuyền và móc khóa).
  • Mẫu M2 là Lắc tay bằng kim loại màu vàng có khối lượng là 18,7595, chứa thành phần kim loại chính là B(Ahàm lượng Bạc trung bình: 99,16% (thân lắc và móc khóa).

Tại phiên tòa sơ thẩm:

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong: Vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố theo Cáo trạng số 105/CT-VKSTP-HS, ngày 30/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: bị cáo Trần Thị T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”

Áp dụng: điểm c khoản 2 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 55, khoản 2 Điều 56, khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Bị cáo Trần Thị T mức án từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù;

Chuyển hình phạt 08 (tám) tháng tù cho hưởng án treo tại bản án số 74/2023/HSST ngày 19/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai thành hình phạt 08 (tám) tháng tù giam.

Tổng hợp hình phạt tại bản án số: 74/2023/HSST ngày 19/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Buộc bị cáo T8 chấp hành hình phạt 02 bản án từ 03 (ba) năm 02 (hai) tháng đến 03 (ba) năm 08 (tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì bị cáo đã nhận thức được lỗi lầm của bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Viện kiểm sát, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Trần Thị T không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật.

[2]. Về chứng cứ buộc tội bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Trần Thị T đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng số 105/CT-VKTP-HS, ngày 30/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong đã truy tố. Bị cáo khẳng định những lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra là hoàn toàn tự nguyện, đúng sự thật, bị cáo không bị bức cung và cáo trạng truy tố là đúng, không oan cho

bị cáo. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người bị hại và người làm chứng cũng như các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Đây là vụ án: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, xảy ra vào khoảng 10 giờ 40 phút ngày 07/06/2023 tại tiệm V1, thị trấn L, huyện T do bị cáo Trần Thị T cùng một số đối tượng không rõ lai lịch đã mua vàng thật tại tiệm Vvà lấy hóa đơn mua hàng. Sau đó, bị cáo T3 những đối tượng không rõ lai lịch đi làm vàng giả có đặc điểm tương tự như vàng thật đã mua và mang theo cùng hóa đơn mua hàng quay lại tiệm Vcầm cố. Bà Nguyễn Lê T4(Con bà Lê Thị H2– chủ tiệm vàng) tưởng là vàng thật của tiệm mình bán ra nên đồng ý cầm cố với số tiền 70.000.000 đồng, bị cáo T7 số tiền này cùng với số đối tượng không rõ lai lịch chia nhau tiêu xài.

Vì vậy, Cáo trạng số số 105/CT-VKSTP-HS, ngày 30/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong truy tố bị cáo Trần Thị T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

[3]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Trần Thị T8 chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuy nhiên tại giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) nên cũng cần xem xét giảm nhẹ 01 phần hình phạt cho bị cáo để thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.

[4]. Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Bị cáo là công dân có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, hành vi phạm tội của bị cáo đã cố ý trực tiếp xâm phạm đến tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, đã gây nghi kỵ không tốt trong nội bộ quần chúng nhân dân và làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo có nhân thân không tốt, đã bị xử phạt về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và hiện bị cáo đang bị Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố N khởi tố về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, chứng tỏ bị cáo đã xem thường pháp luật nên cần xử lý bị cáo nghiêm minh. Vì vậy, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định đủ để giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[5]. Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt đối với bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử ghi nhận để xem xét.

[6]. Về tang vật chứng của vụ án:

  • Đã chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Phong 01 phong bì số 4296/C09B bên trong có mẫu vật được hoàn lại sau giám định gồm: Mẫu M1, khối lượng hoàn trả 37,5048gam; Mẫu M2, khối lượng hoàn trả 18,7557gam. Xét thấy, đây là vật chứa thành phần kim loại chính là B(A, còn giá trị sử dụng nên tịch thu, sung quỹ nhà nước.
  • Ngày 21/06/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ttạm giữ của bà Lê Thị H6 đoạn video camera thời lượng 04 phút 05 giây và 01 đoạn video camera

thời lượng 30 giây. Ngày 03/07/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ttạm giữ của bà Lê Thị H6 đoạn video camera thời lượng 46 giây. Các đoạn video trên đã được mở niêm phong để kiểm tra, nội dung thể hiện hành vi của Trần Thị T9 tiệm Vgiao dịch và lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Sau khi mở niêm phong đã tiến hành lưu trữ, niêm phong lại và được chuyển kèm theo hồ sơ vụ án. Đây là tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ án nên tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

Trong vụ án còn một số đối tượng tên T5T4Pchưa xác định rõ lai lịch có hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T quyết định tách vụ án hình sự số: 294/QĐ-CQCSĐT ngày 14/09/2024 để tiếp tục điều tra, xử lý sau là phù hợp.

[7]. Về phần bồi thường dân sự: Bị hại bà Lê Thị H7 cầu bồi thường số tiền 70.000.000 đồng, đến nay bị cáo Trần Thị T10 bồi thường. Tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại bà Lê Thị H8 tiền 70.000.000 đồng nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Buộc bị cáo T8 bồi thường cho bị hại Lê Thị H1số tiền 70.000.000 đồng.

[8]. Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”

    Áp dụng: điểm c khoản 2 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

    Xử phạt: Bị cáo Trần Thị T 02 (hai) 06 (sáu) tháng tù;

    Áp dụng: Điều 55, khoản 2 Điều 56, khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

    Chuyển hình phạt 08 (tám) tháng tù cho hưởng án treo tại Bản án số 74/2023/HSST ngày 19/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai thành hình phạt 08 (tám) tháng tù giam.

    Tổng hợp hình phạt tại bản án số: 74/2023/HSST ngày 19/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai, về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Buộc bị cáo Trần Thị T phải chấp hành hình phạt 02 bản án: 03 (ba) năm 02 (hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án (được khấu trừ vào các ngày tạm giữ, tạm giam của Bản án số 74/2023/HSST ngày 19/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai từ ngày 03/01/2023 đến ngày 19/5/2023);

  2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, 585, 589, Bộ luật dân sự;

    Buộc bị cáo Trần Thị T8 bồi thường cho bị hại Lê Thị H1số tiền 70.000.000 đồng (bảy mươi triệu đồng);

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự.

  1. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ Luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

    Tịch thu, sung quỹ: 01 phong bì số 4296/C09B bên trong có mẫu vật được hoàn lại sau giám định gồm: Mẫu M1, khối lượng hoàn trả 37,5048gam; Mẫu M2, khối lượng hoàn trả 18,7557gam (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Phong).

  2. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Trần Thị T8 nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 3.500.000đ (ba triệu năm trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm;
  3. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai có mặt bị cáo, người bị hại, báo cho họ biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND huyện Tuy Phong;
  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - Phân Trại tạm giam
  • Khu vực Tuy Phong;
  • - Phân Trại tạm giam Khu
  • vực thành phố Nha Trang;
  • - Chi cục THADS huyện Tuy Phong;
  • - Bị cáo;
  • - Người bị hại;
  • - Lưu: Hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lý Văn Lấy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2025/HSST ngày 28/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG, TỈNH BÌNH THUẬN về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 34/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo T 02 năm 06 tháng tù
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger