Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHÚ MỸ

TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU

Bản án số: 34/2025/HSST

Ngày: 21-3-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ MỸ

TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thuỳ Trang

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đình Hải

Ông Nguyễn Văn Thuận

-Thư ký phiên toà: Bà Diệp Minh Hường – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Mỹ tham gia phiên toà : ông Lê Nguyễn Trường Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 3 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 32/2025/HSST ngày 20 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2025/HSST-QĐ ngày 05 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Ngọc L(tên gọi khác: không); Sinh năm: 1990 tại tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu; Nơi cư trú: Ấp P, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. Nghề nghiệp: Làm thuê; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh ; Tôn giáo: không ; Trình độ văn hóa: 03/12; Cha: Nguyễn Duy D năm 1970; Mẹ: Huỳnh Thị Kim P năm 1974; Bị cáo chưa có chồng con. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo hiện đang tại ngoại tại ấp P, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu và bị cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 11/2025/HSST-LCCT ngày 20/02/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa Vũng Tau. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

- Bị hại: Bà Lang Thị N; sinh năm: 1982 (vắng mặt)

Địa chỉ: Số C đường N, khu phố N, phường P, thành phố P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 31/8/2020, Nguyễn Thị Ngọc L1 bộ đến tiệm Spa của chị Lang Thị N1 năm 1982 ở số C, đường N, khu phố N, phường P, thành phố P, tỉnh BRVT để gội đầu thì nhìn thấy cửa tiệm đang mở và đèn bật sáng, không có người trông coi, L2 lút đi vào bên trong tìm kiếm tài sản để trộm cắp. Lđi vào mở tủ quần áo, tìm thấy trong túi áo khoác của chị N2 trong tủ có một chiếc hộp tròn màu đỏ, bên trong đựng chiếc nhẫn kim loại bằng vàng 18k, trọng lượng 01 chỉ, có đính mặt đá màu xanh hình chữ nhật và số tiền 8.300.000 đồng, L12 chiếc nhẫn và xấp tiền bỏ vào túi quần của mình, để lại một ít tiền lẻ vào túi áo của chị NLúc này, thấy chị N3 về và tắt đèn đi ngủ, L3 nhàng bò sát nền nhà để ra cửa tẩu thoát thì vô tình đụng vào cửa phát ra tiếng động. Nghe thấy tiếng động, chị N4 bật đèn thì nhìn thấy Llúc này L4 chóng đẩy cửa chạy thoát ra ngoài cùng tài sản đã trộm cắp được. Sau đó, L5 chiếc nhẫn vàng đến bán cho một nhân viên (không rõ nhân thân lai lịch) làm việc ở tiệm V phường M, thành phố P, tỉnh BRVT với giá 3.350.000 đồng. Tất cả số tiền trên Lđã tiêu xài hết.

Đến ngày 15/01/2021, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Plàm việc với LLthừa nhận hành vi trộm cắp tài sản của chị N5 đã nêu trên. Ngày 18/01/2021, Cơ quan CSĐT Công an thị xã P quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định khởi tố bị can, lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Nguyễn Thị Ngọc L6 tội trộm cắp tài sản. Quá trình điều tra, L14 bỏ trốn và bị truy nã theo số 06/QĐ ngày 14/5/2021. Đến ngày 19/10/2024, Nguyễn Thị Ngọc L7 Cơ quan CSĐT Công an thị xã P.

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 39/KL-HĐ.ĐGTS ngày 31/3/2021 của Hội đồng định giá tài sản UBND thị xã Pkết luận: 01 chiếc nhẫn vàng 18k, trọng lượng 01 chỉ, có đính một viên đá màu xanh, hình chữ nhật trị giá 4.080.000 đồng.

Lời khai của Nguyễn Thị Ngọc L8 hợp lời khai bị hại, vật chứng thu giữ được và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Bản cáo trạng số 32/CT-VKS ngày 14/01/2025 Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ ( nay là thành phố P) đã truy tố Nguyễn Thị Ngọc L6 tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, Nguyễn Thị Ngọc L9 nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên và không có ý kiến gì về bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Mỹ.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Mỹ giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Ngọc L10 yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Ngọc L11 09 đến 12 tháng tù.

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

* Vật chứng vụ án thu giữ và xử lý:

- Đối với chiếc nhẫn vàng Nguyễn Thị Ngọc L12 trộm rồi mang bán tại tiệm Vdo thời gian đã lâu nên không xác định được chính xác L13 mang chiếc nhẫn lấy trộm được đến tiệm Vbán hay không. Vì vậy, Cơ quan CSĐT Công an thị xã P được vật chứng.

* Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Thị Ngọc L14 bồi thường cho chị Lang Thị N6 tiền 8.000.000 đồng, chị N7 nhận tiền, không có yêu cầu gì thêm đồng thời có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo L

Tại phiên tòa, bị cáo công nhận Viện kiểm sát truy tố đúng người đúng tội và bị cáo chỉ xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã P1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ (nay là thành phố P), Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Hành vi của bị cáo được xác định như sau: Khoảng 21 giờ ngày 31/8/2020, tại tiệm Spa của chị Lang Thị N8 số C đường N, khu phố N, phường P, thị xã P (nay là thành phố P), tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, Nguyễn Thị Ngọc L14 có hành vi lén lút chiếm đoạt số tiền 8.300.000 đồng và 01 chiếc nhẫn vàng trị giá 4.080.000 đồng của chị Lang Thị N9 giá trị tài sản mà Nguyễn Thị Ngọc L14 trộm cắp của chị N10 12.380.000 đồng (Mười hai triệu ba trắm tám mươi nghìn đồng). Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Ngọc L14 đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ Luật Hình sự 2015.

Do đó quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Mỹ đối với bị cáo Nguyễn Thị Ngọc L6 tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ pháp luật.

[3]. Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội bị cáo gây ra đã xâm hại đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ; gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo là người trưởng thành, có nhận thức xã hội, biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì tham lam muốn chiếm đoạt tài sản của người khác để tiêu xài, nhằm thoả mãn nhu cầu cá nhân. Qúa trình điều tra, bị cáo bỏ trốn gây khó khăn trong quá trình điều tra của cơ quan tiến hành tố tụng, thể hiện sự coi thường pháp luật. Vì vậy cần có hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để nhằm giáo dục riêng và phòng người tội phạm chung.

[4]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[4.1]. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không.

[4.2]. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã bồi thường thiệt hại, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị hại có đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó áp dụng điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 giảm cho bị cáo một phần hình phạt.

Về hình phạt bổ sung: xét thấy bị cáo không có việc làm ổn định nên không áp dụng không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[5]. Về xử lý vật chứng: Đối với chiếc nhẫn vàng Nguyễn Thị Ngọc L12 trộm rồi mang bán tại tiệm Vdo thời gian đã lâu nên không xác định được chính xác L13 mang chiếc nhẫn lấy trộm được đến tiệm Vbán hay không. Vì vậy, Cơ quan CSĐT Công an thị xã P được vật chứng.

[6]. Trách nhiệm dân sự: Nguyễn Thị Ngọc L14 bồi thường cho chị Lang Thị N6 tiền 8.000.000 đồng, chị N7 nhận tiền và không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7]. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Ngọc L phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015;

- Xử phạt: Nguyễn Thị Ngọc L 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt thi hành án.

2. Về trách nhiệm dân sự: Không ai yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

3. Án phí HSST: Bị cáo Nguyễn Thị Ngọc L phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng).

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án. Riêng những người vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày để từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết công khai để yêu cầu Toà án tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu xét xử lại vụ án theo trình tự phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

- TAND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;

- VKSND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;

- Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu(PV27);

- Sở Tư pháp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;

- VKSND thành phố Phú Mỹ;

- Thi hành án dân sự thành phố Phú Mỹ

- Những người tham gia tố tụng

- Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

NGUYỄN THỊ THÙY TRANG

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2025/HSST ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ MỸ TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 34/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ MỸ TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: TROM CAP
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger