TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU SƠN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 34/2025/HSST
Ngày: 01 - 04 - 2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thủy.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Hữu Thủy và ông Dương Văn Lâm.
Thư ký phiên toà: Ông Lê Sỹ Vĩ - Thư ký Toà án nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên toà: Bà Phan Thị Thùy - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 04 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn tỉnh Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 28/2025/HSST ngày 06 tháng 03 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2025/QĐXXST- HS ngày 17 tháng 03 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn C, sinh năm: 1974; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Số CCCD:[...], ngày cấp 04/10/2023; Nơi cấp: cục C1- bộ C2.
Trú tại: Thôn Đ, xã D, huyện T, tỉnh Thanh Hóa
Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông: Nguyễn Văn N ( đã chết) và bà: Nguyễn Thị H, sinh năm 1942.
Vợ: Trần Thị P, Sinh năm 1975; Có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1996, con nhỏ nhất sinh năm 2013;
Nhân thân: Ngày 27/7/2005 bị Tòa án Phúc thẩm tại Hà Nội xử phạt 18 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”. Đã chấp hành xong án phạt tù ngày 17/01/2009, chấp hành nghĩa vụ thi hành án dân sự ngày 02/10/2006.
Tiền án: Ngày 14/12/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn xử phạt 18 tháng tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đã chấp hành xong án phạt tù ngày 30/8/2023, chấp hành nghĩa vụ thi hành án dân sự ngày 21/12/2022.
Tiền sự: Không
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/10/2024 đến ngày 02/11/2024 chuyển tạm giam đến nay, hiện đang tạm giam tại Phân trại khu vực T, tỉnh Thanh Hóa. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
1
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau :
Ngày 21/10/2024 Nguyễn Văn C đi qua khu vực sân bóng thuộc xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa thì thấy một người đàn ông nhìn quen nên Nguyễn Văn C đi lại hỏi, nói chuyện thì được biết người đàn ông tên là L. Sau đó C nhờ L mua 2.000.000đ, L giao cho C 01 gói giấy bạc bên trong có một túi ni lông màu trắng chứa 90 viên ma túy. Nguyễn Văn C mang 90 viên ma túy về nhà và sử dụng hết 10 viên, số còn lại cất giấu tại vị trí dưới chân tủ quần áo trong phòng ngủ tại nhà ở thôn Đ, xã D, huyện T để sử dụng dần.
Khoảng 13 giờ 30 phút, ngày 24/10/2024 Nguyễn Văn C đến nhà anh Lê Huy H1, ở thôn T, xã H, huyện T chơi, mang theo 08 viên hồng phiến thì bị Công an huyện T và Công an xã H, huyện T kiểm tra, phát hiện trong túi quần bên trái phía trước mà C đang mặc có 01 túi ni lông màu trắng, có mép dính màu đỏ bên trong chứa 08 viên nén màu hồng; vật chứng được thu giữ niêm phong trong phong bì ký hiệu C1. Tiến hành khám xét khẩn cấp tại chỗ ở của Nguyễn Văn C Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T thu giữ tại vị trí sàn nhà bên dưới chân tủ quần áo (chân tủ bên phải theo hướng từ ngoài vào) trong phòng ngủ của gia đình C 01 túi ni lông màu trong suốt, viền màu đỏ bên trong có 71 viên nén màu đỏ và 01 viên nén màu xanh.
Tại bản kết luận giám định số 4184/KL-KTHS ngày 01/11/2024 của Phòng K kết luận: 08 viên nén màu hồng của phong bì niêm phong ký hiệu C1 gửi giám định là ma túy có tổng khối lượng là 0,788 gam loại Methamphetamine.
Tại bản kết luận giám định số 4106/KL-KTHS ngày 30/10/2024 của Phòng K kết luận: 71 viên nén màu đỏ của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy có tổng khối lượng là 7,033 gam loại Methamphetamine; 01 viên nén màu xanh của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy có tổng khối lượng là 0,106 gam loại Methamphetamine.
Bản cáo trạng số 31/CT- VKS- TS, ngày 04 tháng 03 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn, truy tố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g, khoản 2, Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, do nghiện ma túy nên bị cáo tàng trữ để sử dụng dần cho bản thân, ngoài ra không có mục đích gì khác, bị cáo thừa nhận bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa truy tố là hoàn toàn đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố như bản cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g, khoản 2, Điều 249; Khoản 1, Điều 50; Điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 47, Điều
2
38 của Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C từ 06 năm đến 06 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 24/10/2024. Không phạt bổ sung bổ sung đối với bị cáo;
Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định; Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Nguyễn Văn C không có tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn. Tại lời nói sau cùng trước khi HĐXX vào phòng nghị án, bị cáo nhận thức thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử sơ thẩm giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở thành công dân có ích và sớm được về đoàn tụ với gia đình và hòa nhập với xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Những chứng cứ xác định có tội của bị cáo:
Hành vi phạm tội của bị cáo được xác định bởi: Biên bản vụ việc, vật chứng thu giữ được, lời khai của bị cáo cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, nên đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng 13 giờ 30 phút, ngày 24/10/2024 tại thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Tổ công tác Công an huyện T phát hiện và bắt quả tang Nguyễn Văn C đã có hành vi cất giấu trong túi quần bên trái phía trước mà C đang mặc 08 viên ma túy có tổng khối lượng là 0,788 gam loại Methamphetamine. Ngoài ra khám xét nơi ở của C còn thu giữ được 72 viên ma túy có tổng khối lượng 7,139 gam loại Methamphetamine. Tổng khối lượng ma túy C tàng trữ để sử dụng là 7,927g loại Methamphetamine. C khai cất giấu số ma túy trên nhằm mục đích để sử dụng cho bản thân, không bán.
Như vậy hành của Nguyễn Văn C đủ yếu tố cấu thành tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g, khoản 2, Điều 249 của Bộ luật hình sự.
[3] Xét tính chất vụ án: Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp; Xâm phạm trật tự quản lý hành chính của cơ quan quản lý Nhà nước về chất gây nghiện. Mặc dù bị cáo nhận thức và biết rõ tác hại của ma túy, đã từng bị Tòa án xét xử về tội “ tàng trữ trái phép chất ma túy” với mức án 18 tháng tù, nhưng bị cáo không rút ra được bài học để cải tạo tốt cho bản thân mà vẫn tiếp tục tàng trữ ma túy mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo không
3
những làm ảnh hưởng đến sức khỏe con người, còn là hiểm họa lớn cho xã hội, là nguyên nhân phát sinh ra nhiêu tệ nạn khác. Vì vậy cần xử lý nghiêm nhằm giáo dục và phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa hôm nay và tại cơ quan điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bố đẻ của bị cáo là ông Nguyễn Văn N được Chủ tịch nước tặng huy chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng nhì, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội khi chưa được xóa án tích, nên lần phạm tội này bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “ tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo C có nhân thân xấu.
[4] Về trách nhiệm hình sự: Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Căn cứ vào khoản 1 Điều 50 của Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đủ răn đe, rèn luyện ý thức tuân thủ pháp luật, trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Không áp dụng hình phạt bổ sung.
[5] Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy là mẫu vật còn lại sau giám định.
[6] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Đối với người bán ma túy cho C: Quá trình điều tra, xác minh ở thôn C, xã Đ, thành phố T có 01 đối tượng tên Lê Trọng L sinh năm 1982, nhưng hiện nay Lê Trọng L không có mặt ở địa phương, đi đâu làm gì gia đình, chính quyền địa phương không rõ và ngoài lời khai của C không còn tài liệu khác chứng minh Lê Trọng L là người bán ma túy cho C nên không có cơ sở để điều tra xử lý là phù hợp
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điểm g Khoản 2, Điều 249, khoản 1 Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 47, Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Điều 331, 333; 336 Bộ luật tố tụng hình sự ; khoản 1 Điều 6; Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tiểu mục 1, mục I danh mục án phí lệ phí ban hành kèm theo nghị quyết 326;
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn C 06 ( sáu) năm, 06 ( sáu) tháng tù. Thời hạn
4
tù tính từ ngày 24/10/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy có khối lượng còn lại sau giám định, được đựng trong 01 phong bì niêm phong có ký hiệu “CATriệu Sơn TC1140” ở mặt trước, bên trong chứa 07 viên nén màu hồng có tổng khối lượng là 0,696g và 01 Phong bì niêm phong có ký hiệu “TC1149” ở mặt trước bên trong chứa 67 viên nén màu đỏ tổng khối lượng 6,620g và 0,088g chất bộ màu xanh hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa theo biên bản về việc giao nhận vật chứng ngày 24/03/2025.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Thủy |
5
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ TÒA Trần Đình Nam Đàm Thị T | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN Lê Thị T1 |
6
7
8
Bản án số 34/2025/HSST ngày 01/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU SƠN, TỈNH THANH HÓA về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 34/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 01/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn C phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
