|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 34/2025/HSST Ngày 11-11-2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thắm.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Tiến Tịnh.
- Bà Hoàng Thị Thanh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Linh Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Lâm Đồng tham gia phiên toà: Bà Lê Thu Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Lâm Đồng mở phiên toà xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 34/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo:
Phạm Thị Bích L; sinh ngày 09/8/1993, tại tỉnh Đắk Lắk; nơi cư trú: Thôn B, xã H, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Không; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 11/12; con ông Phạm Văn Đ, sinh năm 1957 và bà Trịnh Thị T, sinh năm 1960; có chồng là Nguyễn Quốc L1, sinh năm 1982 (đã ly hôn); có 01 con sinh năm 2015; có 01 tiền án: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 67/2023/HSST ngày 23/3/2023, Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk (cũ) đã tuyên phạt Phạm Thị Bích L 01 năm 09 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, ngày 08/8/2024 chấp hành xong hình phạt nhưng chưa được xoá án tích; tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 07/8/2025 đến ngày 13/8/2025 chuyển tạm giam; đang tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực số F (T), Trại tạm giam số 2 Công an tỉnh L - có mặt.
Bị hại: Anh Đoàn Phan Tùng V; địa chỉ: Thôn Đ, xã T, tỉnh Lâm Đồng - vắng mặt.
Anh Cái Văn A; địa chỉ: Thôn Đ, xã T, tỉnh Lâm Đồng - vắng mặt.
Chị Nguyễn Thị Thu T1; địa chỉ: Thôn Đ, xã T, tỉnh Lâm Đồng - vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Nguyễn Thị Thúy V1; địa chỉ: Thôn Đ, xã T, tỉnh Lâm Đồng - vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chiều ngày 04/8/2025, Phạm Thị Bích L đi taxi từ xã H, tỉnh Đắk Lắk đến xã T, tỉnh Lâm Đồng thuê phòng tại khách sạn G thuộc thôn Đ, xã T, tỉnh Lâm Đồng (khách sạn do anh Đoàn Phan Tùng V, sinh năm 1998 làm chủ) để lưu trú. Đến khoảng 22 giờ 20 phút cùng ngày, do không có tiền để đánh bạc qua mạng nên Phạm Thị Bích L gặp anh Đoàn Phan Tùng V đưa ra thông tin gian dối về việc bạn của L bị lực lượng Cảnh sát giao thông bắt xe tại cầu A thuộc xã C, tỉnh Lâm Đồng cần tiền để nộp phạt nhưng L không có tiền trong tài khoản, L nhờ anh V chuyển giúp 2.500.000 đồng vào tài khoản rồi L đưa lại tiền mặt cho anh V. Tin lời của L, anh V đã chuyển 2.500.000 đồng vào tài khoản ngân hàng TMCP Á theo số tài khoản 42632817 mang tên Phạm Thị Bích L. Sau khi nhận được tiền, L không đưa tiền mặt cho anh V mà dùng điện thoại di động Iphone XS Max của mình truy cập vào trang web Ku1223.net, đổi 2.500.000 đồng ra điểm để đánh bạc qua mạng và thua hết số tiền này.
Đến khoảng 07 giờ 50 phút ngày 06/8/2025, Phạm Thị Bích L đi bộ từ khách sạn G đến quán L2 tại thôn Đ, xã T, tỉnh Lâm Đồng để ăn sáng. Tại đây, L gặp anh Cái Văn A (sinh năm 1996, là chủ quán) và đưa ra thông tin gian dối về việc thiếu tiền để trả tiền hàng, bạn của L đang cầm ví tiền đi mua cà phê một lát nữa quay lại nên nói anh Cái Văn A chuyển vào tài khoản Ngân hàng A1 theo số tài khoản 42632817 đứng tên L số tiền 2.000.000 đồng, khi bạn của L đến thì sẽ đưa lại tiền mặt thì anh Cái Văn A đồng ý. Tin lời của L, anh Cái Văn A đã chuyển 2.000.000 đồng vào số tài khoản trên. Sau khi nhận được tiền, L dùng điện thoại di động Iphone XS Max của mình truy cập vào trang web Ku1223.net, đổi 2.000.000 đồng ra điểm để đánh bạc qua mạng và thua hết số tiền này.
Để tiếp tục có tiền đánh bạc, với thủ đoạn đưa ra thông tin gian dối, tin tưởng thông tin của Phạm Thị Bích L, chị Nguyễn Thị Thu T1 (sinh năm 1997, là vợ của anh Cái Văn A) đã chuyển cho L số tiền 2.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng A1 theo số tài khoản 42632817 mang tên Phạm Thị Bích L. Nhận được tiền, L tiếp tục dùng điện thoại di động Iphone XS Max của mình truy cập vào trang web Ku1223.net, đổi 2.000.000 đồng ra điểm để thực hiện đánh bạc qua mạng và thua hết số tiền này.
Để tiếp tục tạo lòng tin cho anh Cái Văn A và chị Nguyễn Thị Thu T1, Phạm Thị Bích L nói chị T1 làm 02 phần cháo để mang về khách sạn cho bạn rồi tiếp tục nói với chị T1 chuyển thêm cho L 2.000.000 đồng nữa, nhưng do tài khoản không đủ tiền nên chị T1 chỉ chuyển cho L 1.500.000 đồng vào tài khoản ngân hàng A1 theo số tài khoản 42632817 mang tên Phạm Thị Bích L. Nhận được tiền, L dùng điện thoại di động Iphone XS Max của mình truy cập vào trang web Ku1223.net, đổi 1.500.000 đồng ra điểm để đánh bạc qua mạng và thua hết số tiền này.
Sau khi đánh bạc thua hết tiền, Phạm Thị Bích L đưa ra thông tin gian dối là bạn của L đi xuống xã C, tỉnh Lâm Đồng để mua sầu riêng chưa quay lại, L nhờ anh Cái Văn A và chị Nguyễn Thị Thu T1 chuyển thêm tiền, nhưng do tài khoản hết tiền nên anh Cái Văn A đưa cho L 500.000 đồng tiền mặt, L đi bộ đến quán T2 (do bà Nguyễn Thị Thúy V1, sinh năm 1979, trú tại thôn Đ, xã T, tỉnh Lâm Đồng làm chủ) đưa 500.000 đồng tiền mặt nhờ bà Nguyễn Thị Thúy V1 chuyển vào tài khoản ngân hàng A1 số tài khoản 42632817 mang tên Phạm Thị Bích L, bà V1 lấy tiền công 10.000 đồng, chuyển vào tài khoản của L số tiền 490.000 đồng. Nhận được tiền, L dùng điện thoại di động Iphone XS Max của mình truy cập vào trang web Ku1223.net, đổi 490.000 đồng ra điểm để đánh bạc qua mạng và thua hết số tiền này.
Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, do nghi ngờ Phạm Thị Bích L có hành vi gian dối để chiếm đoạt tài sản, anh Cái Văn A và chị Nguyễn Thị Thu T1 yêu cầu Phạm Thị Bích L trả tổng số tiền 6.000.000 đồng nhưng L không có tiền để trả và có ý định bỏ trốn nên anh Văn A và chị T1 đã trình báo Công an xã T xử lý.
Tại Cáo trạng số 03/CT-VKS-KV8 ngày 13 tháng 10 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Lâm Đồng đã truy tố Phạm Thị Bích L về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Phạm Thị Bích L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và thừa nhận Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh, khoản và điều luật áp dụng như Cáo trạng là đúng, không oan.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về hình phạt: Áp dụng điểm khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h, i khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Phạm Thị Bích L từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù; đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu, sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max màu vàng, số Imei 353106100861002; tịch thu, tiêu huỷ 01 sim điện thoại số 0848.639.xxx của Phạm Thị Bích L do sử dụng vào việc phạm tội; lưu cùng hồ sơ vụ án 02 đĩa CD ghi lại hình ảnh, thời gian, địa điểm Phạm Thị Bích L thực hiện hành vi phạm tội.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị chấp nhận việc bị cáo Phạm Thị Bích L đã tác động gia đình bồi thường cho anh Đ1 Phan Tùng V 2.500.000 đồng, bồi thường cho anh Cái Văn A 2.500.000 đồng và bồi thường cho chị Nguyễn Thị Thu T1 3.500.000 đồng. Những người này không yêu cầu gì thêm nên đề nghị không xem xét giải quyết.
Bị cáo không tranh luận, bào chữa mà chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục thep quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định:
Vào khoảng 22 giờ 20 phút ngày 04/8/2025, tại thôn Đ, xã T, tỉnh Lâm Đồng, Phạm Thị Bích L đã dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin không đúng sự thật nhằm chiếm đoạt tài sản của anh Đoàn Phan Tùng V, cụ thể: Bị cáo đã đưa ra thông tin không đúng sự thật về việc bạn của bị cáo bị Công an giao thông bắt, cần tiền chuyển khoản cho bạn để nộp phạt và hứa sẽ đưa lại tiền mặt cho anh V, tin tưởng thông tin này nên anh V đã chuyển khoản cho bị cáo số tiền 2.500.000 đồng. Sau khi nhận được tiền, bị cáo không chuyển khoản cho bạn mà sử dụng để thực hiện hành vi đánh bạc qua mạng.
Cũng dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin không đúng sự thật, trong khoảng thời gian từ 07 giờ 50 phút đến 11 giờ 30 phút ngày 06/8/2025, tại thôn Đ, xã T, tỉnh Lâm Đồng, bị cáo Phạm Thị Bích L tiếp tục thực hiện hành vi lừa đảo, chiếm đoạt của anh Cái Văn A số tiền 2.500.000 đồng, của chị Nguyễn Thị Thu T1 số tiền 3.500.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo đã chiếm đoạt là 8.500.000 đồng. Vì vậy, có đủ căn cứ kết luận bị cáo Phạm Thị Bích L đã phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự.
Khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm...”
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội. Trước khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã bị Tòa án kết án 01 năm 09 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, ngày 08/8/2024 chấp hành xong hình phạt nhưng chưa được xoá án tích, bị cáo không lấy đó làm bài học mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Trong khoảng thời gian từ ngày 04/8/2025 đến ngày 6/8/2025 bị cáo đã 05 lần thực hiện hành vi lừa đảo và chiếm đoạt được tổng số tiền 8.500.000đ. Trong đó, bị cáo đã chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị Thu T1 (sinh năm 1997, là vợ của anh Cái Văn A) số tiền 3.500.000 đồng và tại thời điểm bị cáo thực hiện hành vi chiếm đoạt tiền của chị Nguyễn Thị Thu T1 thì chị T1 đang mang thai.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng phạm tội 02 lần trở lên, tái phạm và phạm tội đối với phụ nữ có thai quy định tại điểm g, h, i khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Ngoài ra, bị cáo đã tác động gia đình hoàn trả toàn bộ tiền chiếm đoạt cho bị hại, được bị hại có đơn bãi nại giảm nhẹ hình phạt. Vì vậy, bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[6] Sau khi cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, xét thấy mặc dù thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra không lớn và đã được hoàn trả cho các bị hại, nhưng cần xử phạt bị cáo hình phạt tù với mức hình phạt nghiêm khắc mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo, đồng thời nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.
[7] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo không nghề nghiệp nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[8] Đối với hành vi đánh bạc qua mạng Internet của bị cáo Phạm Thị Bích L và các tài khoản Ngân hàng mà bị cáo chuyển tiền đến sau đó quy đổi thành điểm để thực hiện việc đánh bạc trên trang web Ku1223.net, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L đã tiến hành xác minh, uỷ thác điều tra nhưng chưa có kết quả, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau là phù hợp.
[9] Về xử lý vật chứng: 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max màu vàng, số Imei 353106100861002 là tài sản của bị cáo. Đây là vật chứng mà bị cáo sử dụng vào việc phạm tội và còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước; 01 sim điện thoại số 0848.639.xxx là vật chứng nhưng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu huỷ; 02 đĩa CD ghi lại hình ảnh, thời gian, địa điểm bị cáo Phạm Thị Bích L thực hiện hành vi phạm tội nên cần lưu cùng hồ sơ vụ án.
[10] Về trách nhiệm dân sự: Sau khi phạm tội, bị cáo Phạm Thị Bích L đã tác động gia đình bồi thường cho anh Đ1 Phan Tùng V số tiền 2.500.000 đồng, bồi thường cho anh Cái Văn A số tiền 2.500.000 đồng và bồi thường cho chị Nguyễn Thị Thu T1 số tiền 3.500.000 đồng. Việc bồi thường là hoàn toàn tự nguyện nên cần chấp nhận. Sau khi được bồi thường, những người này không yêu cầu gì khác nên không xem xét giải quyết.
[11] Xét chứng cứ buộc tội, quan điểm đề nghị về mức hình phạt, việc xử lý vật chứng của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên cần chấp nhận.
[12] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng điểm khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h, i khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Tuyên bố: Phạm Thị Bích L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Phạm Thị Bích L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 07/8/2025.
- Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận việc bị cáo Phạm Thị Bích L đã bồi thường cho anh Đ1 Phan Tùng V số tiền 2.500.000 đồng, bồi thường cho anh Cái Văn A số tiền 2.500.000 đồng và bồi thường cho chị Nguyễn Thị Thu T1 số tiền 3.500.000 đồng.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
Tịch thu, sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max màu vàng, số Imei 353106100861002 và tịch thu, tiêu hủy 01 sim điện thoại số 0848.639.xxx của bị cáo Phạm Thị Bích L.
Lưu cùng hồ sơ vụ án 02 đĩa CD ghi lại hình ảnh, thời gian, địa điểm bị cáo Phạm Thị Bích L thực hiện hành vi phạm tội.
(Các vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/10/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh L - Công an xã Đ và Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 8 tỉnh Lâm Đồng).
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Phạm Thị Bích L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Thắm |
Bản án số 34/2025/HSST ngày 11/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – LÂM ĐỒNG về hình sự sơ thẩm (tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 34/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị Bích L phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
