|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 34/2025/HSST Ngày: 10/3/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Ngọc T.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Đàm Thị Hồng N – Ủy viên ban chấp hành, Phó ban tổ chức Quận Đoàn Quận 1;
- Ông Phú Minh T – Cán bộ hưu trí, nguyên chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phường Nguyễn Thái Bình, Quận 1.
- Thư ký phiên tòa:
- + Tại điểm cầu trung tâm: Bà Cao Thị Mỹ T– Thư ký Tòa án nhân dân Quận 1.
- + Tại điểm cầu thành phần: Bà Nguyễn Thị Thanh Kim T – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 1.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 tham gia phiên tòa:
- + Tại điểm cầu trung tâm: Ông Phạm Hoàng H – Kiểm sát viên.
- + Tại điểm cầu thành phần: Ông Phạm Hoàng H – Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 43/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 02 năm 2025 theo hình thức trực tuyến, gồm 02 điểm cầu: Điểm cầu trung tâm đặt tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1, điểm cầu thành phần đặt tại Trại tạm giam C - Phân trại tạm giam khu vực Quận A theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2025/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:
- Đàm Thị Bích T1, sinh ngày 08/5/1992, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số B đường T, Phường H, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở hiện nay: Số A đường T, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Đ (chết) và bà Đàm Thị C; có chồng Lê Hoài T2 và có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2023; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam ngày 12/4/2024 tại Trại tạm giam C - Phân trại tạm giam khu vực Quận A. (có mặt)
- Đàm Thị Bích D, sinh ngày 12/5/1991, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Số F đường Đ, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Đ (chết) và bà Đàm Thị C; có chồng Nguyễn Trung Đ1 và có 04 người con, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2016; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam ngày 12/4/2024 tại Trại tạm giam C - Phân trại tạm giam khu vực Quận A. (có mặt)
- Đàm Trần Anh Q, sinh ngày 12/7/1995, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Số F đường Đ, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Chạy xe giao hàng; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Đ (chết) và bà Đàm Thị C; chưa có vợ con; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam ngày 12/4/2024 tại Trại tạm giam C - Phân trại tạm giam khu vực Quận A. (có mặt)
- Người bị hại:
- + Bà Nguyễn Thị Ngọc M, sinh năm: 1959;
- Chỗ ở hiện nay: Căn hộ E, Chung cư A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. (vắng mặt)
- + Bà Trương Ngọc Thanh T3, sinh năm: 1981;
- Chỗ ở hiện nay: Số H, hẻm A, khu phố B, đường N, Phường B, thành phố T, tỉnh Tây Ninh. (vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Bà Đàm Thị C, sinh năm: 1964;
- Chỗ ở hiện nay: Số A đường T, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
- + Trẻ Lê Đàm Bảo T4, sinh ngày 28 tháng 3 năm 2013;
- Chỗ ở hiện nay: Số A đường T, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
- Người đại diện hợp pháp của trẻ Lê Đàm Bảo T4: Ông Lê Hoài T2, sinh năm: 1991;
- Chỗ ở hiện nay: Số A đường T, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
- + Bà Đàm Thị Bích H1, sinh năm: 2003;
- Chỗ ở hiện nay: Số F đường Đ, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
- + Bà Nguyễn Thị Mỹ P, sinh năm: 1995;
- Chỗ ở hiện nay: Số A đường B, Phường F, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
- + Bà Lê Nguyễn Yến X, sinh năm: 2004;
- Chỗ ở hiện nay: Số E đường N, Phường I, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
- + Bà Đàm Thị Mỹ H2, sinh năm: 1992;
- Chỗ ở hiện nay: Số A đường B, Phường F, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
- Người bào chữa: Ông Trịnh Minh Kiến Q1, Luật sư Công ty L thuộc Đoàn luật sư Thành phố H là người bào chữa cho bị cáo Đàm Thị Bích T1. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cần tiền tiêu xài nên Đàm Thị Bích T1, Đàm Thị Bích D, Đàm Thị Bích H1, Đàm Trần Anh Q (là chị em trong cùng một gia đình), Đàm Thị Mỹ H2, Nguyễn Thị Mỹ P (là chị em họ) và Lê Nguyễn Yến X (là bạn quen biết ngoài xã hội) đã cùng nhau từng đến các lễ hội tổ chức trên địa bàn Quận A, và lợi dụng sự tập trung đông người, cả nhóm sẽ tìm người có tài sản sơ hở (thường là dây chuyền) để giật, chiếm đoạt với cách thức là khi phát hiện tài sản, T1 đi theo tiếp cận và trực tiếp giật dây chuyền, những người còn lại sẽ áp sát vào bị hại để che chắn, cản địa; H2 thường đứng ở phía sau chờ để chuyển sợi dây chuyền mà T1 giật được đi cất giấu, tẩu tán. Sau khi giật được tài sản, lợi dụng xung quanh bị hại lúc này có đông người, cả nhóm không bỏ chạy mà lẫn vào đám đông nhằm tẩu thoát, tài sản giật được đã được chuyền đi nhằm tránh việc bị hại và người xung quanh thấy, phát hiện. Q là người chở T1 đi, sau đó đứng đợi rồi chở về, cũng biết cách thức cướp giật của T1 và những người nêu trên, đã được hưởng lợi từ việc cả nhóm cướp giật được dây chuyền.
Với phương thức, thủ đoạn như trên: Ngày 06/4/2024, T1 biết được tại C, phường P, Quận A có tổ chức lễ hội ẩm thực nên nảy sinh ý định đến đây để giật dây chuyền bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, T1 (sử dụng số điện thoại 0765.229.xxx) gọi đến số điện thoại 0932.656.xxx lưu tên “O” (tên con gái của H2), để liên lạc rủ H2 đi giật dây chuyền vào tối cùng ngày và H2 đồng ý. Tiếp tục T1 dùng ứng dụng messenger có tài khoản tên “Lai Út T5” gọi đến tài khoản tên “Thập Bát C1” của Q để rủ Q đến lễ hội để giật dây chuyền và Q đồng ý. T1 hẹn Q khoảng 18 giờ cùng ngày thì đến nhà T1 tại số A đường T, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh để đón rồi chở T1 và Lê Đàm Bảo T4 (con gái T1) đi đến lễ hội để cướp giật tài sản. Sau khi được T1 rủ đi giật tài sản, Q sử dụng số điện thoại 0586.113.xxx gọi đến số điện thoại 0796.809.xxx (Q lưu là “Chị D1”) cho D hỏi T1 rủ “đi chơi” Duyên biết chưa, D trả lời là biết rồi.
Đến khoảng 18 giờ 30 phút ngày 06/4/2024, D đang ở nhà tại số F đường Đ, Phường A, Quận D (ở trên lầu 1) thì H1 (đang ngồi cùng Lê Nguyễn Yến X, ở dưới nhà) nói với D “Xuống đi chơi chị D ơi”, D hiểu là H1 rủ đi giật dây chuyền và D đồng ý. Sau đó, D điều khiển xe mô tô màu đỏ loại tay ga của H1 (không rõ chủng loại, biển số) chở H1, X đi từ nhà đến khu vực C, đường L, phường P, Quận A.
Khoảng 18 giờ 30 cùng ngày, Q đến đón rồi chở T1 cùng T4 đến C, phường P, Quận A (trên đường đi Trâm nói thì Q mới biết nơi mà cả nhóm sẽ đến để giật dây chuyền ở lễ hội đang tổ chức trong Công viên 23/9), đến nơi Q đứng ngoài đợi; T1 và T4 vào trong công viên, sau đó gặp nhóm của D, H1, X và nhóm của H2, P nên biết những người này tập trung để cùng T1 giật dây chuyền do trước đó T1 đã gọi rủ H2. Khoảng đến 19 giờ 40 phút cùng ngày, T1 phát hiện bà Nguyễn Thị Ngọc M, trên cổ đang đeo 01 sợi dây chuyền bằng hợp kim vàng, có hạt màu vàng - trắng xen kẽ có 01 hạt mề đay bằng hợp kim vàng có đính đá có thể giật được nên T1 tiếp cận, áp sát người chị M. D, H1, X, P thấy T1 áp sát chị M, hiểu là T1 đã phát hiện được dây chuyền có thể giật được thì cả 04 cùng đứng áp sát xung quanh chị M nhằm che chắn, cản địa, tạo điều kiện cho T1 giật sợi dây chuyền, H2 đứng phía sau chờ T1 chuyền dây chuyền để cất giấu, tẩu tán. T1 dùng tay trái nhanh chóng giật sợi dây chuyền chị M đang đeo rớt văng xuống đất về phía sau, rồi nhặt lên đưa cho H2 đang đứng phía sau hỗ trợ để cất giấu, tẩu tán. H2 đi về chỗ T4, đưa cho T4 sợi dây chuyền vừa chiếm đoạt được của chị M, T4 thấy và biết đây là sợi dây chuyền mà mẹ (T1) và các dì vừa giật được nên cất vào trong hũ thuốc bằng thủy tinh, màu nâu, để hũ thuốc trong túi vải màu kem đeo trên người. Sau khi giật được sợi dây chuyền của chị M, do mệt nên H1 chở D về trước sau đó H1 quay lại để cùng cả nhóm tiếp tục giật tài sản.
Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, bằng thủ đoạn tương tự T1, H2, H1, X, P tiếp tục chiếm đoạt 01 sợi dây chuyền bằng hợp kim vàng, màu bạc của một người phụ nữ (chưa rõ nhân thân, lai lịch) và 01 sợi dây chuyền bằng hợp kim vàng, màu vàng có 01 mặt đá màu xanh lá cây của bà Trương Ngọc Thanh T3. Sau khi T1 giật được hai sợi chuyền nêu trên, T1 tiếp tục đưa cho H2 đứng phía sau hỗ trợ cất giấu, tẩu tán. H2 đến gặp và đưa cho T4 cất giữ 2 sợi dây chuyền này vào trong hũ thuốc bằng thuỷ tinh, để trong túi vải màu kem đeo trên người. Khi H2 đưa 02 sợi dây chuyền cho T4, do không thấy nên T4 không biết ai là người giật, giật của ai nhưng hiểu được đây là tài sản mà mẹ (T1) và các dì của mình vừa chiếm đoạt được của người khác.
Qua điều tra xác định T1, D, Q là người thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q2 đã đưa về trụ sở làm rõ. (Bút lục: 60-92; 105-121; 131-151; 160-206)
Theo chứng thư giám định số: 00278/N1.24/TD ngày 07/6/2024 của Trung tâm K chất lượng 3 và Phiếu kiểm định số G105859 ngày 16/5/2024 của Công ty Cổ phần G kết luận giám định đối với: 03 sợi dây chuyền, 02 mặt đá là tang vật thu giữ trong vụ án:
- - 01 sợi dây chuyền bằng hợp kim vàng, có hạt màu vàng - trắng xen kẽ, phần màu trắng bề mặt có mạ Rhodium (R), khối lượng 10,5501g.
- - 01 hạt mề đay bằng hợp kim vàng có đính đá (96 viên kim cương thiên nhiên tông màu trắng), bề mặt có mạ Rhodium (R), tổng khối lượng 4,6555g.
- - 01 sợi dây chuyền bằng hợp kim vàng, màu bạc, bề mặt có mạ Rhodium (R), khối lượng 11,7923g.
- - 01 sợi dây chuyền bằng hợp kim vàng, màu vàng, khối lượng 8,2154g.
- - 01 mặt đá màu xanh lá cây gồm (01 tượng cẩm thạch thiên nhiên màu lục và 03 viên đá nhân tạo màu trắng) có khung nối bằng hợp kim vàng, tổng khối lượng 2,6219g. (Bút lục: 263-275)
Theo kết luận định giá tài sản số: 132/KL-HĐĐGTS ngày 23/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân Quận A kết luận:
- - 01 sợi dây chuyền bằng hợp kim vàng, có hạt màu vàng - trắng xen kẽ, phần màu trắng bề mặt có mạ Rhodium (R), khối lượng 10,5501g, tại thời điểm định giá ngày 06/4/2024 có giá trị 15.472.000 đồng;
- - 01 hạt mề đay bằng hợp kim vàng có đính đá (96 viên kim cương thiên nhiên tông màu trắng), bề mặt có mạ Rhodium (R), khối lượng 4,6555g, tại thời điểm định giá ngày 06/4/2024 có giá trị 5.460.000 đồng;
- - 01 sợi dây chuyền bằng hợp kim vàng, màu bạc, bề mặt có mạ Rhodium (R), khối lượng 11,7923g, tại thời điểm định giá ngày 06/4/2024 có giá trị 17.298.000 đồng;
- - 01 sợi dây chuyền bằng hợp kim vàng, màu vàng, khối lượng 8,2154g, tại thời điểm định giá ngày 06/4/2024 có giá trị 9.640.000 đồng;
- - 01 mặt đá màu xanh lá cây gồm (01 tượng cẩm thạch thiên nhiên màu lục và 03 viên đá nhân tạo màu trắng) có khung nối bằng hợp kim vàng, khối lượng 2,6219g, tại thời điểm định giá ngày 06/4/2024 có giá trị 3.854.000 đồng. (Bút lục: 256-263)
Tại Cơ quan điều tra T1, D và Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Lời khai của T1, D và Q phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, người liên quan, các biên bản đối chất, nhận dạng giữa T1, D và Q với nhau, biên bản, bản ảnh thực nghiệm điều tra và các tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan Cảnh sát điều tra thu thập được. (Bút lục: 179-336)
Bản cáo trạng số: 45/CT-VKSQ1 ngày 10/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 đã truy tố các bị cáo Đàm Thị Bích T1, Đàm Thị Bích D, Đàm Trần Anh Q về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm a khoản 2 Điều 171 Bộ Luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh tụng giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo phạm tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Sau khi phân tích hành vi phạm tội, đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 2 Điều 171; điểm g, o khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo T1 từ 04 năm đến 05 năm tù; điểm a khoản 2 Điều 171; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo D từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm 06 tháng tù; điểm a khoản 2 Điều 171; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Q từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm 06 tháng tù; miễn hình phạt tiền đối với các bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bà M và bà T3 đã nhận lại tài sản các bị cáo chiếm đoạt và không yêu cầu các bị cáo bồi thường về trách nhiệm dân sự nên không xét.
Về xử lý vật chứng:
- - 01 sợi dây chuyền bằng hợp kim vàng, màu bạc, bề mặt có mạ Rhodium (R), khối lượng 11,7923g cần tiếp tục thông báo tìm kiếm chủ sở hữu trên các phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 01 năm, hết thời hạn trên không có chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp đến nhận thì tịch thu, sung quỹ Nhà nước. (Bút lục: 288)
- - 01 xe mô tô hiệu Honda Wave, màu đen, biển số: 59C1-833.46, số khung: RLHJA3905HY198965, số máy: JA39E0199050 cần xem xét trả lại cho bà C. (Bút lục: 190-193)
- - 01 điện thoại di động hiệu iPhone 15 Pro, imei: 351135567559207; 01 điện thoại di động hiệu iPhone XS, imei: 357208098286170; 01 điện thoại di động hiệu OPPO A83 màu đen, imei: 867609038284816 (bể màn hình) cần tịch thu, sung quỹ Nhà nước.
- - 01 túi chất liệu vải, màu kem; 01 vỏ hũ đựng thuốc chất liệu thuỷ tinh, màu nâu; 01 đầm chất liệu vải màu đen và 01 đầm chất liệu vải màu đen-nâu cần tịch thu tiêu hủy.
Bào chữa cho bị cáo Đàm Thị Bích T1, luật sư Trịnh Minh Kiến Q1 cho rằng bị cáo T1 đã thống nhất về tội danh, điểm, khoản mà Viện kiểm sát truy tố nên không tranh luận, chỉ nêu các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội khi chưa tiền án, tiền sự; tài sản đã kịp thời thu hồi trả lại cho bị hại, nhận thức pháp luật của bị cáo còn hạn chế, gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo là người trực tiếp nuôi 03 con nhỏ, trong đó có một con mới 07 tháng tuổi, có nơi cư trú ổn định. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức án nhẹ nhất, đồng thời tạm hoãn thi hành án cho bị cáo.
Phần đối đáp giữa đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa giữ nguyên quan điểm.
Tại phiên tòa, các bị cáo T1, D và Q đã khai nhận hành vi phạm tội như kết luận điều tra và cáo trạng truy tố. Các bị cáo khẳng định cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 truy tố bị cáo phạm tội cướp giật tài sản theo điểm a khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự là không oan sai. Phần tranh luận bị cáo T1 không có ý kiến tranh luận bổ sung ngoài tranh luận của người bào chữa, bị cáo D, bị cáo Q không có ý kiến tranh tụng gì và nói lời sau cùng các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Xét, về tố tụng thì hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra các bị cáo, người bị hại, đại diện của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và tại phiên tòa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét, lời khai của các bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và vụ án còn được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án là phiếu chuyển nguồn tin về tội phạm, biên bản thực nghiệm điều tra, bản ảnh, kết luận định giá tài sản, biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung, bản tự khai, bản tường trình; biên bản đối chất, nhận dạng, biên bản bắt bị can để tạm giam,... nên có căn cứ để kết luận: Khoảng 19 giờ 40 phút ngày 06/4/2024, tại khu vực C, phường P, Quận A, các bị cáo T1, D và Q đã có hành vi giật 01 sợi dây chuyền bằng hợp kim vàng, có hạt màu vàng - trắng xen kẽ, phần màu trắng bề mặt có mạ Rhodium (R), khối lượng 10,5501g và 01 hạt mề đay bằng hợp kim vàng có đính đá (96 viên kim cương thiên nhiên tông màu trắng), bề mặt có mạ Rhodium (R), khối lượng 4,6555g của bà M, trị giá 20.932.000 đồng; 01 sợi dây chuyền bằng hợp kim vàng, màu vàng, khối lượng 8,2154g và 01 mặt đá màu xanh lá cây gồm (01 tượng cẩm thạch thiên nhiên màu lục và 03 viên đá nhân tạo màu trắng) có khung nối bằng hợp kim vàng, khối lượng 2,6219g của bà T3, trị giá 13.494.000 đồng; tổng trị giá tài sản các bị cáo chiếm đoạt là 34.426.000 đồng. Qua truy xét các bị cáo bị bắt giữ cùng vật chứng. Do đó, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận các bị cáo T1, D và Q đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Xét, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thực hiện với quyết tâm cao, các bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân được luật hình sự bảo vệ nên phải chịu hình phạt.
[4] Xét, đây là vụ án đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ, vạch ra kế hoạch để cùng thực hiện hành vi tội phạm, dưới sự điều khiển của bị cáo T1. Bị cáo T1 là người rủ rê, đề xuất là người trực tiếp thực hiện hành vi cướp giật tài sản. Các bị cáo D, Q khi được bị cáo T1 rủ đi cướp giật tài sản thì đồng ý tích cực tham gia vào việc phạm tội với vai trò giúp sức. Khi bị cáo T1 tiếp cận các bị hại thì bị cáo D cùng các đối tượng H1, P, X áp sát, che chắn, cản địa để đối tượng còn lại là H2 chuyền tài sản mà bị cáo T1 giật được đưa cho trẻ Trân để cất giấu; còn bị cáo Q thì chở bị cáo T1 và trẻ T4 đi cướp giật, sau khi cướp giật được tài sản các bị cáo đều được chia tiền hưởng lợi từ việc bán tài sản cướp giật. Ngoài ra, tại phiên toà các bị cáo còn khai nhận ngoài vụ phạm tội ngày 06/4/2024 thì vào tháng 6/2023 các bị cáo còn thực hiện hành vi cướp giật tài sản của người khác cũng tương tự, do đó cần tiếp tục xác minh, làm rõ khi nào có căn cứ xử lý sau.
[5] Xét, về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra bị cáo T1 phạm tội khi xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội thuộc trường hợp tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự nên các bị cáo phải chịu mức án tương xứng với tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
[6] Xét, về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội khi chưa có tiền án, tiền sự nên cần cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[7] Xét, về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng”. Do đó các bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử miễn hình phạt tiền đối với các bị cáo.
[8] Xét, đối với hành vi cướp giật 01 sợi dây chuyền bằng hợp kim vàng, bạc, bề mặt có mạ Rhodium (R), khối lượng 11,7923g, trị giá 17.298.000 đồng. Cơ quan điều tra Công an Q2 đã đăng báo tìm kiếm người bị hại, hoặc chủ sở hữu hợp pháp nhưng đến nay vẫn chưa có kết quả, do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý đối với hành vi của các bị cáo là có cơ sở.
[9] Xét, đối với trẻ T4 cùng tham gia cướp giật tài sản với bị cáo T1, có nhiệm vụ cất giấu tài sản do nhóm của T1 chiếm đoạt được; tuy nhiên, thời điểm thực hiện hành vi phạm tội T4 chưa đủ 14 tuổi nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q2 không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với T4 là có cơ sở.
[10] Xét, các đối tượng Đàm Thị Bích H1, Đàm Thị Mỹ H2, Nguyễn Thị Mỹ P và Lê Nguyễn Yến X, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định truy tìm nhưng đến nay chưa có kết quả, khi nào bắt được có cơ sở xử lý sau.
[11]. Xét, lời bào chữa cho bị cáo Đàm Thị Bích T1 của ông Trịnh Minh Kiến Q1, Luật sư Công ty L đề nghị Hội đồng xét xử hoãn chấp hành hình tù cho bị cáo là không có căn cứ.
[12] Xét, về trách nhiệm dân sự: Đối với 01 sợi dây chuyền bằng hợp kim vàng, có hạt màu vàng - trắng xen kẽ, phần màu trắng bề mặt có mạ Rhodium (R), khối lượng 10,5501g và 01 hạt mề đay bằng hợp kim vàng có đính đá (96 viên kim cương thiên nhiên tông màu trắng), bề mặt có mạ Rhodium (R), khối lượng 4,6555g (bút lục: 278, 279) và 01 sợi dây chuyền bằng hợp kim vàng, màu vàng, khối lượng 8,2154g và 01 mặt đá màu xanh lá cây gồm (01 tượng cẩm thạch thiên nhiên màu lục và 03 viên đá nhân tạo màu trắng) có khung nối bằng hợp kim vàng, khối lượng 2,6219g (bút lục: 280, 281); Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu hồi trả lại cho bà M, bà T3 và không yêu cầu các bị cáo bồi thường về trách nhiệm dân sự nên không xét.
[13] Xét, về xử lý vật chứng:
- - Đối với 01 sợi dây chuyền bằng hợp kim vàng, màu bạc, bề mặt có mạ Rhodium (R), khối lượng 11,7923g Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q2 đã đăng báo tìm chủ sở hữu nhưng chưa có kết quả nên yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền tiếp tục thông báo tìm kiếm chủ sở hữu trên các phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 01 năm kể từ ngày thông báo, hết thời hạn trên không có chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp đến nhận xe thì tịch thu sung quỹ Nhà nước.
- - Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda Wave, màu đen, biển số: 59C1-833.46, số khung: RLHJA3905HY198965, số máy: JA39E0199050. Cơ quan Cảnh sát điều tra thu giữ của bị cáo Q. Qua xác minh xe của bà Đàm Thị C đứng tên đăng ký chủ sở hữu. Bà C khai ngày 06/4/2024, bị cáo Q mượn xe mô tô của bà C để đi chơi, bị cáo Q không nói cho bà C biết sử dụng xe mô tô trên làm phương tiện đi giật tài sản cùng bị cáo T1 và bị cáo D. Xét, việc thu giữ xe không liên quan đến vụ án nên cần trả lại cho bà C là phù hợp theo quy định của pháp luật.
- - Đối với 01 điện thoại di động hiệu iPhone 15 Pro, imei: 351135567559207, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q2 thu giữ của bị cáo T1; 01 điện thoại di động hiệu iPhone XS, imei: 357208098286170 thu giữ của bị cáo Q và 01 điện thoại di động hiệu OPPO A83, màu đen, imei: 867609038284816 (bể màn hình) thu giữ của bị cáo D. Xét, các bị cáo khai sử dụng vào việc phạm tội là liên lạc để đi cướp giật tài sản nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
- - Đối với 01 túi bằng vải, màu kem và 01 vỏ hũ đựng thuốc chất liệu thuỷ tinh, màu nâu thu giữ của trẻ Trân là vật cất giấu tài sản do các bị cáo chiếm đoạt, xét không còn giá trị nên cần tịch thu tiêu huỷ.
- - Đối với 01 đầm chất liệu vải màu đen thu giữ của bị cáo T1; 01 đầm chất liệu vải màu đen-nâu thu giữ của bị cáo D. Xét, việc thu giữ không liên quan đến vụ án cần xem xét trả lại các bị cáo nhưng tại phiên tòa các bị cáo không nhận lại và xét không còn giá trị sử dụng cần tiêu hủy.
[14] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, khoản 1 Điều 21 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[15] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Đàm Thị Bích T1, bị cáo Đàm Thị Bích D và bị cáo Đàm Trần Anh Q phạm tội “Cướp giật tài sản”.
- - Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 171; điểm g, o khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; phạt bị cáo Đàm Thị Bích T1 05 (năm) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/4/2024.
- - Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 171; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; phạt bị cáo Đàm Thị Bích D 04 (bốn) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/4/2024.
- - Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 171; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; phạt bị cáo Đàm Trần Anh Q 04 (bốn) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/4/2024.
- - Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
- + Lưu hồ sơ vụ án 01 (một) USB và 05 (một) đĩa DVD ghi hình ảnh vụ án.
- + Giao 01 (một) sợi dây chuyền bằng hợp kim vàng, màu bạc, bề mặt có mạ Rhodium (R), khối lượng 11.7923g cho Cơ quan thi hành án có thẩm quyền thông báo tìm kiếm chủ sở hữu trên các phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 01 năm, hết thời hạn trên không có chủ sỡ hữu hoặc người quản lý hợp pháp đến nhận xe thì tịch thu sung quỹ Nhà nước.
- (Theo Lệnh nhập kho vật chứng số: 1164/LNK-ĐCSHS ngày 30/7/2024 của Công an Q2, Thành phố Hồ Chí Minh)
- + Trả lại bà Đàm Thị C 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Wave, màu đen, biển số: 59C1-833.46, số khung: RLHJA3905HY198965, số máy: JA39E0199050.
- + Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu iPhone 15 Pro, imei: 351135567559207; 01 (một) điện thoại di động hiệu iPhone XS, imei: 357208098286170; 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A83, màu đen, imei: 867609038284816 (bể màn hình).
- + Tịch thu tiêu hủy 01 (một) túi chất liệu vải, màu kem; 01 (một) vỏ hũ đựng thuốc chất liệu thuỷ tinh, màu nâu.
- + Tịch thu tiêu hủy 01 (một) đầm chất liệu vải màu đen; 01 (một) đầm chất liệu vải màu đen-nâu.
- (Theo Phiếu nhập kho vật chứng số: 237/2024/PNK-THAHS ngày 08/8/2024 của Công an Q2, Thành phố Hồ Chí Minh)
- - Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 21 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; bị cáo Đàm Thị Bích T1, bị cáo Đàm Thị Bích D và bị cáo Đàm Trần Anh Q mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Bị cáo Đàm Thị Bích T1, bị cáo Đàm Thị Bích D, bị cáo Đàm Trần Anh Q có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tòa tuyên án.
Đối với người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Huỳnh Ngọc T |
Bản án số 34/2025/HSST ngày 10/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cướp giật tài sản
- Số bản án: 34/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đàm Thị Bích T1 và đồng phạm phạm tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 171 BLHS
