Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6 - SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Bản án số: 34/2025/HS-ST

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Ngày 28-11-2025

----------

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - SƠN LA

Ngày 28 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 37/2025/TLST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Linh.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Hội, bà Lò Thị Minh.
  • Thư ký phiên tòa: Ông Bàn Văn Sơn, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 - Sơn La.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Sơn La tham gia phiên tòa:

  • Bà Mùi Thị Quyên - Kiểm sát viên.

Nguyễn Văn C, sinh ngày 13 tháng 10 năm 1985 tại xã Q, tỉnh Hưng Yên; nơi cư trú: Tổ F, phường C, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; đảng phái, đoàn thể: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Phạm Thị T1; bị cáo có vợ là Trần Thị T2 (đã ly hôn) và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại Bản án số 03/2013/HSST ngày 06/11/2013 của Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự (đã được xóa án tích); Tại Bản án số 106/2022/HS-ST ngày 05/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự (đã được xóa án tích); bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/9/2025 đến nay. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 17 giờ 40 phút ngày 22/9/2025 tổ công tác Công an phường T, tỉnh Sơn La làm nhiệm vụ tại Tổ dân phố C, phường T, tỉnh Sơn La kiểm tra đối với Nguyễn Văn C đang đi bộ trên đường dân sinh. Qua kiểm tra phát hiện C đang cất giấu trên người 01 gói nilon màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng, nghi là Heroine. Nguyễn Văn C khai nhận đó là ma túy, loại Heroine của C cất giấu để sử dụng cho bản thân. Căn cứ hành vi vi phạm của Nguyễn Văn C tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ niêm phong vật chứng, tạm giữ của C 01 chiếc điện thoại REDMI 12R, mặt ốp lưng màu đen, lắp sim số 0965131085 để điều tra, xử lý.

Cùng ngày, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S tiến hành test thử ma túy đối với Nguyễn Văn C. Kết quả âm tính với chất ma túy.

Ngày 22/9/2025, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S đã tiến hành cân tịnh xác định khối lượng chất bột màu trắng nghi là Heroine thu giữ của Nguyễn Văn C được 0,12 gam. Lấy toàn bộ 0,12 gam làm mẫu trưng cầu giám định, mẫu có ký hiệu C.

Tại Kết luận giám định số 1169/KL-KTHS ngày 26/9/2025 của phòng K Công an tỉnh S kết luận: “Mẫu ký hiệu C gửi giám định là ma túy; loại Heroine (H), có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và 2025) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất mạ túy và tiền chất; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,12 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,12 gam; Loại Heroine (H), có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và 2025) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất. H lại đối tượng giám định: Không.”

Quá trình điều tra Nguyễn Văn C khai nhận: Bản thân nghiện chất ma túy. Khoảng 14 giờ ngày 22/9/2025, C đi nhờ một chiếc xe tải chở hàng không nhớ biển kiểm soát từ tổ 6, phường C, tỉnh Sơn La đến khu vực M, tỉnh Sơn La đề tìm việc làm thuê. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, khi xe ô tô đến địa phận ngã ba gần khách sạn M thì C xuống xe và đi bộ tìm chỗ làm thuê. Khi C đang đi bộ trên đường thì gặp một người đàn ông khoảng 50 tuổi, không biết tên, địa chỉ, C hỏi và mua được của người đó một gói nilon màu trắng bên trong đựng Heroine với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được H1, C cất giấu trong cạp quần phía sau đang mặc rồi đi tìm nơi sử dụng. Khi C đang đi bộ ở khu vực tổ dân phố C, phường T, tỉnh Sơn La thì gặp tổ công tác Công an phường T kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Nguyễn Văn C, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S không có căn cứ để điều tra xác minh, làm rõ và xử lý.

Cáo trạng số 39/CT-VKS-KV6 ngày 07/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Sơn La truy tố bị can Nguyễn Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Tại phiên tòa:

  • - Bị cáo Nguyễn Văn C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Sơn La giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và áp dụng các căn cứ pháp luật như sau:
  1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 22/9/2025.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

  1. Về vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 1, điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng mảnh nilon màu trắng.

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn C 01 chiếc điện thoại di động Redmi 12R, mặt ốp màu đen, lắp sim số 0965131085, điện thoại đã qua sử dụng cũ.

  1. Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Sau khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm xử lý các vấn đề của vụ án. Bị cáo nhất trí với cáo trạng và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận, đối đáp gì.

Lời nói sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh S, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người làm chứng không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan điều tra. Lời khai của bị cáo không có nội dung gì thay đổi so với lời khai tại cơ quan Cảnh sát điều tra, bị cáo khẳng định việc khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với hành vi đã thực hiện, lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong đồ vật tài liệu bị tạm giữ, biên bản xác định khối lượng, bản kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nên có đủ cơ sở kết luận: Ngày 22/9/2025, bị cáo Nguyễn Văn C đã thực hiện hành vi cất giấu trái phép 0,12 gam chất ma túy, loại Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân. Nguồn gốc số ma túy thu giữ của Nguyễn Văn C là do C mua được của một người đàn ông không quen biết tại khu vực gần khách sạn M với giá 200.000 đồng. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, có mức hình phạt tù từ 03 năm đến 05 năm.

Bị cáo là người có nhân thân xấu, là đối tượng nghiện chất ma túy, là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bản thân bị cáo đã có 02 tiền án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, sau khi trở về địa phương bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng rèn luyện bản thân mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội mới. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Do vậy, cần quyết định hình phạt nghiêm khắc và phù hợp nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tính tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa thấy rằng bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, không có công việc ổn định, bản thân không có tài sản gì có giá trị nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về vật chứng, xử lý vật chứng:

Đối với 01 phong bì niêm phong bên trong đựng mảnh nilon màu trắng. Xét thấy đây là vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động Redmi 12R, mặt ốp màu đen, bên trong lắp sim số 0965131085. Xét thấy đây là tài sản riêng của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần tuyên trả cho bị cáo theo điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[6] Về các vấn đề khác: Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Nguyễn Văn C như C khai nhận. Quá trình điều tra, không xác định được nhân thân, lai lịch nên cơ quan Cảnh sát điều tra không có cơ sở để xác minh, điều tra là phù hợp.

[7] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Thời hạn tạm giam của bị cáo còn dưới 45 ngày do đó Hội đồng xét xử ra quyết định tạm giam đối với bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, sửa đổi, bổ sung năm 2025:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 46 (Bốn mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 22/9/2025.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

  1. Về vật chứng vụ án: Căn cứ khoản 1, điểm c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng mảnh nilon màu trắng.

Tuyên trả cho bị cáo 01 chiếc điện thoại di động Redmi 12R, mặt ốp màu đen, lắp sim số 0965131085, điện thoại đã qua sử dụng cũ.

(Vật chứng được mô tả chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 39/BBVC-THA ngày 18/11/2025 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 6).

  1. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo Nguyễn Văn C phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

  1. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 28/11/2025).

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La;
  • - Viện KSND tỉnh Sơn La;
  • - Công an tỉnh Sơn La;
  • - Viện KSND khu vực 6 - Sơn La;
  • - Phòng THADS khu vực 6 - Sơn La;
  • - Trại giam;
  • - THA HS;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thùy Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2025/HS-ST ngày 28/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 34/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn C tàng trữ 0,12g Heroine
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger