Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 34/2025/HS-ST

Ngày 27 - 5 - 2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Hồng Hạnh
Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Nhân
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Thanh Tuyết
Ông Lê Trọng Đức
Ông Trần Hoàng Trực

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tâm - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Ông Phan Văn Phong, bà Đỗ Thị Lụa - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 5 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 33/2025/HSST ngày 08 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:

Lê Anh C, sinh năm 1997, tại Bình Phước, nơi cư trú: Thôn A, xã L, huyện P, tỉnh Bình Phước, nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn P, sinh năm 1968 và bà Nguyễn Thị Kim D, sinh năm 1976; bị cáo có 02 anh em ruột, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; bị cáo có vợ Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1997, bị cáo có 01 người con sinh năm 2018.

Tiền án: Có 01 tiền án: Ngày 27/11/2020 bị TAND huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk xét xử về tội “Trộm cắp tài sản”, tuyên phạt 02 (hai) năm tù có thời hạn; Đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/12/2021; đã chấp hành xong nghĩa vụ án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm, chưa chấp hành nghĩa vụ liên đới bồi thường thiệt hại 61.333.000 đồng. Chưa được xóa án tích.

Tiền sự: không

Ngày 07/7/2024 bị cáo bị bắt quả tang về hành vi “Vận chuyển trái phép chất ma túy”, bị bắt tạm giữ từ ngày 07/7/2024 đến ngày 16/7/2024, sau đó bị áp dụng biện pháp tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Phí Ngọc M thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B. (có mặt)
Địa chỉ: Công ty L, khu phố A, phường T, thị xã P, tỉnh Bình Phước

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Chị Nguyễn Thị N, (tên thường gọi là N1) sinh năm 1988 (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ B, ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước

- Người làm chứng:
Anh Bùi Văn P1, sinh năm 1980 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn B, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 17/6/2024, thông qua mạng xã hội Lê Anh C quen một người tên T1 (chưa rõ nhân thân) sống ở Campuchia, sử dụng telegram tên Phone S. Trưa ngày 07/7/2024, C đang cùng bạn gái tên Nguyễn Thị N (tên thường gọi là N1), sinh ngày 10/02/1998, nơi cư trú tổ B, ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước uống nước tại quán giải khát ven đường P thuộc phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. T1 gọi điện cho C qua ứng dụng telegram và thỏa thuận thuê C vận chuyển ma tuý từ thành phố Đ lên xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước cho người nhà của T1, tiền công thỏa thận là 3.000.000 đồng thì C đồng ý. Tiếp đó T1 gửi hình ảnh kèm vị trí chỗ lấy ma tuý qua ứng dụng telegram cho C. C hỏi mượn xe mô tô 93P2-928.20 của N nói là đi mua đồ ăn, rồi điều khiển xe đi theo chỉ dẫn mà T1 gửi qua telegram đến khu vực bãi rác tự phát thuộc khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước để lấy ma tuý. Tại đây C nhìn thấy 01 (một) bịch nylon màu trắng dạng quai xách, bên trong có 02 (hai) hộp bằng xốp (loại hộp đựng thức ăn), bên trong mỗi hộp xốp chứa 25 (hai mươi lăm) gói ma túy nước vui có màu cam - trắng, trên mỗi túi nylon in chữ CAMELIA. C thông báo cho T1 biết đã nhận ma túy, rồi giấu toàn bộ số ma túy vào trong cốp xe mô tô của N và quay lại chỗ N rủ N cùng lên xã P để đòi nợ, thực chất là để C giao ma túy cho người của T1. Lúc này, C lấy bịch nylon bên trong có ma túy treo ở phía trước xe mô tô, N hỏi thì C nói là “bịch đồ ăn để ăn dọc đường”. Khi đến xã P, C điều khiển xe rẽ vào đường cạnh Bách Hóa X thuộc thôn B, xã P bịch ma tuý ở bụi cỏ bên đường, quay video và gửi kèm vị trí nơi giấu ma túy cho T1, sau đó C chở N ra thị xã P. Khi C và N đang ở thị xã P thì T1 nhắn tin nói không tìm thấy ma túy và yêu cầu C quay lại để tìm. Trong lúc C quay lại chỗ cất giấu ma túy và tìm kiếm thì bị lực lượng chức năng phát hiện bắt quả tang và thu giữ toàn bộ tang vật (BL 24 – 25), gồm: 01 (một) xe mô tô hiệu Vision, biển số 93P2-928.20; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone Xs màu trắng; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone X màu trắng; 01 (một) bịch nylon màu trắng bên trong có 02 (hai) hộp bằng xốp màu trắng, bên trong mỗi hộp xốp này có 25 (hai mươi lăm) bịch nylon màu cam - trắng bên ngoài có chữ CAMELLIA, bên trong có chứa chất bột.

Tại cơ quan điều tra Lê Anh C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Tại Kết luận giám định số: 4208/KL-KTHS ngày 09/7/2024 của Phân viện KHHS Bộ C2 tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận: 01 túi nylon bên trong có 02 hộp bằng xốp, bên trong mỗi hộp xốp có 25 gói nylon màu Cam – trắng, bên ngoài có chữ “CAMELLIA" bên trong 2 hộp có chứa chất bột (nghi là ma túy) gửi giám định có chứa tế bào người của cùng một nam giới. Kiểu gen của nam giới này trùng với kiểu gen của Lê Anh C.

Tại Kết luận giám định số: 4205/KL-KTHS ngày 15/7/2024 của Phân viện KHHS Bộ C2 tại TP . kết luận: Chất bột đựng trong 50 gói nylon màu C1 - trắng, nhãn chữ "CAMELLIA” gửi giám định là ma túy, loại: Methamphetamine, MDMA, Ketamine, tổng khối lượng: 180,67 gam (sau giám định 150,02 gam).

Tại Cáo trạng số 19/CT-VKSBP-P1 ngày 02 tháng 4 năm 2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước và tại phiên toà truy tố bị cáo Lê Anh C phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm e khoản 3 Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

- Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước giữ nguyên bản Cáo trạng số 19/CT-VKSBP-P1 ngày 02 tháng 4 năm 2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước đã truy tố đối với bị cáo; đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lê Anh C phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm e khoản 3 Điều 250 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo 16 đến 17 năm tù. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử lý các vật chứng theo quy định pháp luật.

- Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo:

Thống nhất quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều khoản, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Mặc dù, bị cáo có tình tiết tăng nặng là tái phạm nhưng sau khi chấp hành hình phạt tù đã cố gắng hoà nhập với cộng đồng, nhận thức pháp luật về ma tuý còn hạn chế. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng mức hình phạt 16 năm tù cho bị cáo để bị cáo sớm có cơ hội làm lại từ đầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan Điều tra Công an tỉnh B, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người và cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án đã thực hiện đều hợp pháp.

  2. Hành vi phạm tội của bị cáo: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của các bị cáo trong hồ sơ vụ án và lời khai của người liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm thực hiện tội phạm, biên bản tiếp nhận người phạm tội quả tang, vật chứng của vụ án, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định của Phòng K Công an tỉnh B và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ được tranh tụng công khai tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:

    Do muốn có tiền tiêu xài nên ngày 07/7/2024 C đồng ý giúp người có tên T1 (chưa rõ nhân thân) sinh sống tại Campuchia sử dụng tài khoản telegram “Phone Sky”, vận chuyển 180,67 gam ma túy loại Methamphetamine, MDMA và Ketamine (khối lượng còn lại sau giám định 150,02 gam) từ thành phố Đ, tỉnh Bình Phước đến xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước, để nhận tiền công 3.000.000 thì bị lực lượng chức năng phát hiện và lập biên bản phạm tội quả tang.

    Như vậy, hành vi của bị cáo Lê Anh C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm e khoản 3 Điều 250 Bộ luật hình sự được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng số 19/CT-VKS-P1 ngày 02 tháng 4 năm 2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

  3. Hành vi mà bị cáo thực hiện đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy, gây mất an ninh trật tự tại địa phương và là nguyên nhân phát sinh của nhiều loại tội phạm khác. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ được mọi hành vi liên quan đến ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn thu lợi bất chính nhanh chóng nên bị cáo vẫn cố tình thực hiện tội phạm. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

  4. Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

    - Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

    Bị cáo có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp “tái phạm”. Đây là các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

    - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

    Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 được áp dụng đối với bị cáo.

  5. Đối với các đối tượng:

    - Đối với Nguyễn Thị N là người cho Lê Anh Công M1 xe mô tô và C đã sử dụng xe chở N đi trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội nhưng N không biết, quá trình điều tra không có tài liệu, chứng cứ xác định N thực hiện hành vi phạm tội cùng với Lê Anh C nên không đặt vấn đề xử lý.

    - Đối với người tên T1 không đủ căn cứ để xác minh nhân thân, lai lịch của người này nên không có căn cứ để xử lý.

  6. Về xử lý vật chứng:

    - Tịch thu tiêu hủy gồm: 01 (một) thùng cát tông được niêm phong, trên giấy niêm phong có chữ ký của Nguyễn Trần Trung N2, Nguyễn Thị Thu H và có hình dấu đỏ của Phân viện Khoa học hình sự Bộ C2 tại thành phố Hồ Chí Minh bên trong có mẫu vật hoàn lại sau giám định gồm: 01 túi lynon, 02 hộp xốp và 180,67 gam ma túy loại Methamphetamine, MDMA, Ketamine (khối lượng còn lại sau giám định 150,02 gam).

    - Tịch thu sung công quỹ: 01 (một) điện thoại di động hiệu iphone X màu trắng (thu giữ của Lê Anh C): Quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của Lê Anh C và được công sử dụng để liên lạc, trao đổi trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội.

    - Trả lại 01 (một) xe mô tô hiệu Vision màu trắng biển số: 93P2-928.20 cho Nguyễn Thị N. Quá trình điều tra xác định xe mô tô trên thuộc quyền sở hữu hợp pháp của Nguyễn Thị N (tên thường gọi là N1), sinh ngày 10/02/1998, hộ khẩu thường trú tổ B, ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước. Ngày 07/7/2024, C sử dụng xe mô tô trên của N đi đến điểm nhận ma túy rồi giấu ma túy trong cốp xe, N hoàn toàn không biết, quá trình C điều khiển xe mô tô trên chở N đến xã P thì N chỉ biết là C đi đòi nợ, không biết và không liên quan đến số ma túy mà C vận chuyển. Do đó, xe mô tô trên không có liên quan đến hành vi phạm tội.

    - Trả lại cho bị cáo Lê Anh C: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone Xs màu trắng đã qua sử dụng (thu giữ của Lê Anh C): Quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của Lê Anh C và không có liên quan đến hành vi phạm tội.

    Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 0009 quyển số 0000442 ngày 22/5/2025 giữa Công an tỉnh B và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Phước

  7. Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

  8. Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

  9. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh:

    Tuyên bố bị cáo Lê Anh C phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.

  2. Về áp dụng điều luật và hình phạt:

    - Áp dụng điểm e khoản 3 Điều 250; điểm s, khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38; Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    - Xử phạt bị cáo Lê Anh C 16 (mười sáu) năm tù. Thời hạn tù ngày 20/6/2024.

  3. Về vật chứng:

    Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

    - Tịch thu tiêu hủy gồm: 01 (một) thùng cát tông được niêm phong, trên giấy niêm phong có chữ ký của Nguyễn Trần Trung N2, Nguyễn Thị Thu H và có hình dấu đỏ của Phân viện Khoa học hình sự Bộ C2 tại thành phố Hồ Chí Minh bên trong có mẫu vật hoàn lại sau giám định gồm: 01 túi lynon, 02 hộp xốp và 180,67 gam ma túy loại Methamphetamine, MDMA, Ketamine (khối lượng còn lại sau giám định 150,02 gam).

    - Tịch thu sung công quỹ: 01 (một) điện thoại di động hiệu iphone X màu trắng (thu giữ của Lê Anh C):

    - Trả lại cho chị Nguyễn Thị N (tên thường gọi là N1), sinh ngày 10/02/1998, nơi cư trú tổ B, ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước 01 xe mô tô hiệu Vision màu trắng biển số: 93P2-928.20.

    - Trả lại cho bị cáo Lê Anh C 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone Xs màu trắng đã qua sử dụng (thu giữ của Lê Anh C):

    Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 0009 quyển số 0000442 ngày 22/5/2025 giữa Công an tỉnh B và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Phước.

  4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 21, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.

    Bị cáo Lê Anh C phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

  5. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Toà án ND cấp cao tại TP.HCM;
  • - Viện kiểm sát cấp cao tại TP.HCM;
  • - Viện kiểm sát ND tỉnh Bình Phước;
  • - CQĐT, PV06 Công an tỉnh Bình Phước
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Bình Phước;
  • - Cục Thi hành án DS tỉnh Bình Phước;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Cổng thông tin điện tử TANDTC;
  • - THCTP, lưu Hồ sơ, THS (16b).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Lê Hồng Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2025/HS-ST ngày 27/05/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC về vận chuyển trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 34/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vận chuyển trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên phạt bị cáo 16 năm tù ...
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger