Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2025/HS-ST

Ngày: 27-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC - TỈNH KIÊN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Quách Văn Khánh;

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Ngọc Quân;

Bà Nguyễn Thị Thu Ba.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Phương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Vinh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 203/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Trần Quốc T, sinh ngày 01 tháng 10 năm 1991 tại thành phố P, tỉnh Kiên Giang;

Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam;

Nơi đăng ký thường trú: Ấp Suối Đá, xã Dương Tơ, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang;

Chỗ ở: Ấp Bến Tràm, xã Cửa Dương, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang;

Nghề nghiệp: Ngư phủ; Trình độ học vấn: 01/12;

Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;

Con ông Trần Văn M, sinh năm 1973 (còn sống) và bà Phạm Thị Mỹ C, sinh năm 1970 (còn sống);

Em có 02 người, lớn sinh năm 1992, nhỏ sinh năm 2000;

Bị cáo chưa có vợ, con;

Tiền án: 02 lần.

- Ngày 14/10/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc xử phạt 09 tháng tù, về tội: Trộm cắp tài sản, theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự tại bản án số 112/2022/HSST, ngày 29/12/2021, chấp hành xong hình phạt tù, chưa xóa án tích.

- Ngày 27/02/2023, bị Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc xử phạt 02 năm tù, về tội: Trộm cắp tài sản, theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự tại bản án số 18/2023/HSST, ngày 18/7/2024, chấp hành xong hình phạt tù, chưa xóa án tích.

Về nhân thân:

- Ngày 20/01/2009, bị Tòa án nhân dân huyện Phú Quốc xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng, về tội: Trộm cắp tài sản, theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, theo bản án số 05. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, không có án tích.

- Ngày 27/04/2009, bị Tòa án nhân dân huyện Phú Quốc xử phạt 09 tháng tù về tội: Trộm cắp tài sản, theo khoản 1 Điều 138 BLHS năm 1999 . Tổng hợp hình phạt 06 tháng tù treo của bản án hình sự số 05 ngày 20/01/2009, bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 01 năm 03 tháng tù, theo bản án số 33 ngày 27/04/2009. Ngày 11/09/2010, chấp hình xong hình phạt tù, Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, không có án tích.

- Ngày 18/04/2012, bị Tòa án nhân dân huyện Phú Quốc xử phạt 02 năm tù về tội: Trộm cắp tài sản, theo khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, theo bản án số 32, ngày 13/12/2013, chấp hành xong hình phạt tù.

- Ngày 10/07/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Phú Quốc xử phạt 03 năm tù về tội: Trộm cắp tài sản, theo khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, theo bản án số 56. Ngày 20/02/2017, chấp hành xong hình phạt tù.

- Ngày 16/10/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Phú Quốc xử phạt 02 năm tù về tội: Trộm cắp tài sản, theo khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, theo bản án số 112. Ngày 09/02/2021, chấp hành xong hình phạt tù.

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/8/2024;

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Anh Vũ Văn T1, sinh năm: 1981 (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp B, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Huỳnh Quốc K, sinh năm: 1984 (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Khu phố E, phường D, thành phố P, Kiên Giang.

- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Hoàng Anh T2 - Đoàn luật sư tỉnh K (có mặt).

- Người đại diện theo pháp luật của bị cáo bị hạn chế năng lực hành vi:

Ông Trần Văn M, sinh năm: 1973 (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Bà Phạm Thị Mỹ C, sinh năm: 1970 (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp B, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có tiền tiêu xài nên Trần Quốc T nảy sinh ý định đi tìm tài sản của người khác để sơ hở lấy trộm bán lấy tiền tiêu xài. Đến khoảng 12 giờ 46 phút, ngày 30/8/2024, T đi bộ đến trước nhà anh Vũ Văn T1, thuộc ấp B, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang. T quan sát thấy anh T1 đang nằm ngủ trên võng, để điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu gold, loại 64GB để dưới nền nhà gần chổ nằm ngủ của T1. T đi vào lấy trộm điện thoại của anh T1 bỏ vào túi quần rồi đi ra. Sau khi lấy trộm được điện thoại, T đi đến cửa hàng điện thoại K1, thuộc khu phố E, phường D bán cho anh Huỳnh Quốc K với giá 1.000.000 đồng (khi mua anh K không biết tài sản do trộm cắp mà có). Số tiền bán điện thoại được T đã tiêu xài cá nhân hết. Sau khi biết được tài sản mua lại của T là do trộm cắp mà có, anh K đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra. Ngày 31/8/2024, Trần Quốc T bị bắt khẩn cấp, đến ngày 03/9/2024, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố P khởi tố, tạm giam để điều tra. Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra, truy tố bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình.

Tang vật thu giữ:

  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu gold, loại 64GB, số máy: MT522B/A, số sê-ri: FK1X9BAQKPH3, đã qua sử dụng.
  • 01 (một) áo sơ mi dài tay bằng vải, trên áo có nhiều hoa văn nhiều màu sắc, áo không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng.
  • 01 (một) quần jean dài bằng vải màu xanh, trên quần có nhiều hoa văn nhiều màu sắc, quần không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng.
  • 01 (một) cái mũ bảo hiểm màu đỏ, không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng.
  • 01 (một) USB nhãn hiệu Kingston, dung lượng 32GB, màu tím, đã qua sử dụng (lưu theo hồ sơ vụ án).

* Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 98/KL-HĐĐGTS ngày 14/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố P kết luận: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu gold, loại 64GB, số máy: MT522B/A, số sê-ri: FK1X9BAQKPH3, đã qua sử dụng. Tại thời điểm định giá tháng 8/2024, trị giá là 5.500.000 đồng.

* Tại Kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số: 454/2024/KLGĐ ngày 04/11/2024 của Trung tâm P kết luận như sau:

  • Kết luận theo tiêu chuẩn y học: Căn cứ Tiêu chuẩn chuẩn đoán của Tổ chức Y tế Thế giới về các rối loạn tâm thần và hành vi hiện hành (ICD-10); Căn cứ Thông tư số 23/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ trưởng Bộ Y ban hành quy trình giám định pháp y tâm thần và biểu mẫu sử dụng trong giám định pháp y tâm thần, các Giám định viên tham gia giám định xác định đối tượng giám định:

Vào ngày 30/8/2024 và thời điểm hiện tại: Trần Quốc T có bệnh lý tâm thần: Rối loạn nhân cách, hành vi do sử dụng nhiều loại ma túy và các chất tác động tâm thần khác (F19.71 - ICD10). Nguyên nhân hình thành bệnh là do hậu quả của việc sử dụng nhiều loại ma túy và các chất tác động tâm thần.

  • Kết luận về khả năng nhận thức, điều khiển hành vi: Vào ngày 30/8/2024 và thời điểm hiện tại: Đương sự hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi.

* Tại bản Cáo trạng số: 01/CT-VKSPQ ngày 09 tháng 12 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc truy tố đối với bị cáo Trần Quốc T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Quốc T từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm, nên đề nghị không xem xét.

- Về biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy vật chứng theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 25/02/2025. Đối với 01 điện thoại di động, đã trả lại chủ sở hữu, nên đề nghị không xem xét.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Quốc T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc truy tố, bị cáo thành khẩn khai báo và có thái độ ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình. Lời nói sau cùng, bị cáo Trần Quốc T xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày quan điểm: Về tội danh thống nhất việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc. Đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, thành khẩn khai báo, tự nguyện khắc phục hậu quả, phạm tội gây thiệt hại không lớn, phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức, để quyết định hình phạt nhẹ hơn đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người đại diện theo pháp luật của bị cáo có đơn xin xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt họ theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Trần Quốc T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là hoàn toàn phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai bị hại và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ căn cứ xác định:

Vào khoảng 12 giờ 46 phút, ngày 30/8/2024, tại ấp B, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang, Trần Quốc T lén lút lấy trộm 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu gold, loại 64GB của anh Vũ Văn T1 trị giá 5.500.000 đồng. Ngày 03/9/2024, Trần Quốc T bị Cơ quan điều tra - Công an thành phố P khởi tố, tạm giam để điều tra.

Xét thấy, bị cáo Trần Quốc T đã lợi dụng sự sơ hở và có hành vi lén lút trộm cắp tài sản của người khác và tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Trần Quốc T nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội, với mục đích thỏa mãn nhu cầu tiêu sài cá nhân. Bị cáo hai lần bị xét xử về hành vi trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích, nay lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, nên thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm.

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của người khác một cách trái pháp luật. Hội đồng xét xử thấy rằng cần áp dụng một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, để bị cáo biết tôn trọng pháp luật, tôn trọng quyền sở hữu về tài sản của người khác, đồng thời giáo dục, răn đe chung đối với loại tội phạm này.

Với các tình tiết đã được chứng minh tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã đủ cơ sở kết luận bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc truy tố bị cáo Trần Quốc T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định của pháp luật.

[3]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo đã thành khẩn khai báo, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Đối với một số tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà người bào chữa cho bị cáo đề nghị áp dụng cho bị cáo không phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử, nên không chấp nhận.

[4]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì thêm, nên không xem xét.

[5]. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy vật chứng theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 25/02/2025. Đối với 01 điện thoại di động, đã trả lại chủ sở hữu, nên không xem xét.

[6]. Về án phí: Bị cáo Trần Quốc T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[7]. Các vấn đề khác có liên quan: Không có.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;

    Tuyên bố: Bị cáo Trần Quốc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    Xử phạt bị cáo Trần Quốc T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 31/8/2024.

  2. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì thêm, nên không xem xét.
  3. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy:
    • - 01 (một) áo sơ mi dài tay bằng vải, trên áo có nhiều hoa văn nhiều màu sắc, áo không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng.
    • - 01 (một) quần jean dài bằng vải màu xanh, trên quần có nhiều hoa văn nhiều màu sắc, quần không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng.
    • - 01 (một) cái mũ bảo hiểm màu đỏ, không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng.

    Vật chứng nêu trên đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc, theo Quyết định chuyển vật chứng số 01/QĐ-VKSPQ ngày 09/12/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc và biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 25/02/2025.

  4. Về án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

    Buộc bị cáo Trần Quốc T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

  5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người đại diện theo pháp luật của bị cáo vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Kiên Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Kiên Giang;
  • - VKSND thành phố Phú Quốc;
  • - Chi cục THADS thành phố Phú Quốc;
  • - Nhà tạm giữ CA thành phố Phú Quốc;
  • - Bị cáo, bị hại;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Quách Văn Khánh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2025/HS-ST ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC TỈNH KIÊN GIANG về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 34/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: HSST
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger