Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN CHÂU

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2025/HS-ST

Ngày: 25-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH

— — — — — — — — —

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Chung.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Dũng Nhân;

Ông Nguyễn Văn Thượng.

Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Sử Ngọc Quân, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Trung Thành – Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 25/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Đặng Văn A (T), sinh năm 1989 tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; chỗ ở hiện nay: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn T1 và bà Phạm Thị L; có vợ là Bùi Thị Y và 01 người con sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 62/2013/HSPT ngày 23/4/2013 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xử phạt bị cáo 06 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Buôn bán hàng cấm”, đã được xóa án tích. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 45/2018/HSST ngày 12/6/2018 của Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xử phạt bị cáo 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đã được xóa án tích. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 55/2018/HSST ngày 28/6/2018 của Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xử phạt bị cáo 01 năm 06 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, đã được xóa án tích; bị tạm giữ từ ngày 06/11/2024 theo Quyết định tạm giữ số 1567 /QĐ-ĐCSHS-KTMT ngày 06/11/2024, chuyển tạm giam từngày 09/11/2024theo Lệnh tạm giam số 526/LTG-ĐCSHS-KTMT ngày 09/11/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh đến nay (có mặt).
  2. Nguyễn Văn Q, sinh năm 1978 tại tỉnh Đồng Nai; nơi cư trú: Ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C và bà Phạm Thị L1; có vợ là Nguyễn Thị Minh T2 và 01 người con sinh năm 2003; tiền án; tiền sự: Không có; bị tạm giữ từ ngày 02/11/2024 theo Quyết định tạm giữ số 1525/QĐ-ĐCSHS-KTMT ngày 02/11/2024, chuyển tạm giam từ ngày 09/11/2024 theo Lệnh tạm giam số 525/LTG-ĐTTH ngày 09/11/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh đến nay (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ ngày 01/11/2024, Nguyễn Văn Q sử dụng điện thoại có số thuê bao 0388.741.344 gọi vào số thuê bao 0973.556.013 gặp Đặng Văn A hỏi mua 90 hộp pháo hoa nổ, loại 49 ống và 20 bịch pháo banh mang về bán lại cho người khác để hưởng lợi. Qua thỏa thuận, A đồng ý bán số pháo nêu trên cho Q với số tiền 44.600.000 đồng và kêu Q rạng sáng ngày 02/11/2024 đến khu vực bãi đất trống cạnh đường Đ, thuộc ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh nhận pháo, Q đồng ý. Sau khi đặt mua số pháo nêu trên, Q một mình điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Camry biển số 60A-825.86 lưu thông từ ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Nai đến điểm hẹn nhận pháo. Khi đến điểm hẹn, Q điện thoại cho A nói “Q đã đến điểm hẹn”, A kêu Q “nằm ngủ trong xe chờ A mua pháo từ Campuchia mang về bán cho Q”, Q đồng ý. Đến khoảng 05 giờ 00 phút ngày 02/11/2024, A điều khiển xe mô tô không mang biển số chở 07 bịch nylon màu đen bên trong có 90 hộp pháo hoa nổ, loại 49 ống và 20 bịch pháo banh đến điểm hẹn bán cho Q. Khi Q vừa xuống xe nhận pháo của A thì bị lực lượng Công an huyện T phối hợp cùng Đội đặc nhiệm Bộ đội Biên phòng tỉnh Tây Ninh, Đồn Biên phòng K, Đồn Biên phòng T4 và Công an xã T bắt quả tang Q cùng vật chứng. Riêng A bỏ chạy thoát, đến ngày 06/11/2024 thì bị bắt giữ. A khai nhận số pháo nêu trên A mua từ Campuchia mang đến khu vực bãi đất trống cạnh đường Đ, thuộc ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh bán lại cho Q để hưởng lợi thì bị phát hiện.

Ngoài ra, Q và A còn khai nhận, với phương thức thỏa thuận mua bán và địa điểm mua bán như trên, trước ngày bị bắt quả tang, Q đã mua pháo hoa nổ của A 02 lần, cụ thể:

Lần thứ nhất: Vào ngày 27/10/2024, Q mua của A 90 hộp pháo hoa nổ, loại 49 ống với giá 40.000.000 đồng, trong đó chuyển khoản trả trước 20.000.000 đồng, khi nhận pháo trả tiền mặt 20.000.000 đồng.

Lần thứ hai: Vào ngày 31/10/2024, Q mua của A 90 hộp pháo hoa nổ, loại 49 ống với giá 40.000.000 đồng, trong đó chuyển khoản trả trước 20.000.000 đồng, khi nhận pháo trả tiền mặt 20.000.000 đồng.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh, Đặng Văn A, Nguyễn Văn Q đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

* Kết luận giám định số 2181/KL-KTHS, ngày 07/11/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận về đối tượng giám định:

  • 45 khối hình hộp chữ nhật, bên ngoài có bọc giấy nhiều màu sắc, có dòng chữ “KS4-4911KL” (ký hiệu M1) bên trong thùng giấy Carton được niêm phong gửi đến giám định đều là pháo nổ (pháo hoa nổ), khi đốt bay lên cao, nổ và phát ra ánh sáng nhiều màu; khối lượng là 75 kg.
  • 45 khối hình hộp chữ nhật, bên ngoài có bọc giấy nhiều màu sắc, có dòng chữ “KS4-49CD” (ký hiệu M2) bên trong thùng giấy Carton được niêm phong gửi đến giám định đều là pháo nổ (pháo hoa nổ), khi đốt bay lên cao, nổ và phát ra ánh sáng nhiều màu; khối lượng là 73,8 kg.
  • 20 bịch nylon chứa nhiều vật hình cầu bằng nhựa hình tròn như quả bóng đá, có nhiều màu sắc (ký hiệu M3) bên trong thùng giấy Carton được niêm phong gửi đến giám định là pháo nổ, khi đốt gây ra tiếng nổ lớn; khối lượng là 9,2 kg.

* Kết luận giám định số: 2500/KL-KTHS ngày 17/12/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận về đối tượng giám định: 25 tờ tiền Việt Nam đồng (P) mệnh giá 500.000; 59 tờ tiền Việt Nam đồng (Polymer) mệnh giá 200.000; 07 tờ tiền Việt Nam đồng (Polymer) mệnh giá 100.000 cần giám định là tiền thật.

* Kết luận giám định số: 2512/KL-KTHS ngày 08/01/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh T, đối tượng giám định: Chiếc xe ô tô TOYOTA, sơn màu đen, số khung: ACV308002142, số máy: 2AZ1236919 (ký hiệu 1540), kết luận về đối tượng giám định: Số khung và số máy không bị đục xóa.

* Kết luận giám định số: 2513/KL-KTHS ngày 09/01/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh T, đối tượng giám định: Chiếc xe mô tô YAMAHA, sơn màu đen, số khung: RLHKC2609KY206232, số máy: KC26E1270023 (ký hiệu 1541), kết luận về đối tượng giám định: Số khung và số máy không bị đục xóa.

Tại bản Cáo trạng số 31/CT-VKSTC ngày 19/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh đã truy tố các bị cáo Đặng Văn A, Nguyễn Văn Q về tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 190 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Đặng Văn A, Nguyễn Văn Q phạm tội “Buôn bán hàng cấm”. Đề nghị:

  • - Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đặng Văn A từ 09 năm tù đến 10 năm tù.
  • - Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q từ 08 năm tù đến 09 năm tù.

3

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự để xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo không tranh luận.

Các bị cáo nói lời nói sau cùng: Các bị cáo đều đã biết sai và xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi của các bị cáo thể hiện: Tại phiên tòa, các bị cáo Đặng Văn A, Nguyễn Văn Q đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ căn cứ xác định: Ngày 01/11/2024, Nguyễn Văn Q điện thoại cho Đặng Văn A đặt mua 90 hộp pháo hoa nổ, loại 49 ống và 20 bịch pháo banh với giá 44.600.000 đồng để bán lại cho người khác kiếm lời thì A đồng ý. Đến ngày 02/11/2024 A đã thu mua đủ số pháo trên của người tên T3 (không rõ nhân thân, địa chỉ) để bán lại cho Q. Vào khoảng 05 giờ ngày 02/11/2024, tại khu vực bãi đất trống cạnh đường Đ thuộc ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, khi A đang thực hiện hành vi bán cho Q 148,8 kg pháo hoa nổ và 9,2 kg pháo nổ (tổng cộng là 158 kg pháo) thì bị lực lượng Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh phối hợp cùng Đội đặc nhiệm Bộ đội Biên phòng tỉnh Tây Ninh, Đồn Biên phòng K, Đồn Biên phòng T4, Công an xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh bắt quả tang Q cùng vật chứng; riêng A bỏ chạy thoát nhưng sau đó bị bắt giữ. Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Đặng Văn A, Nguyễn Văn Q phạm tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 190 của Bộ luật Hình sự như luận tội của vị Kiểm sát viên tại phiên tòa.

[3] Vụ án có tính chất rất nghiêm trọng; hành vi của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý của Nhà nước đối với hàng hóa cấm kinh doanh được pháp luật hình sự bảo vệ. Khi thực hiện tội phạm các bị cáo biết rõ việc buôn bán pháo hoa nổ và pháo nổ là vi phạm pháp luật nhưng để nhằm thu lợi bất chính mà các bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Do đó, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do chính hành vi của mình gây ra và cần xử lý nghiêm.

4

[4] Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án này thấy rằng: Các bị cáo chỉ phạm tội trong trường hợp đồng phạm giản đơn, không có sự cấu kết chặt chẽ, trong đó: Bị cáo Q là người khởi xướng, đặt mua pháo từ bị cáo A để bán lại kiếm lời; bị cáo A là người mua pháo về bán lại cho bị cáo Quốc kiếm lời nên hai bị cáo có vai trò ngang nhau lẽ ra phải chịu trách nhiệm hình sự tương đương nhau. Tuy nhiên, bị cáo A có nhân thân xấu, đã 03 bị kết án về các tội Buôn bán hàng cấm, Tàng trữ trái phép chất ma túy và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có nên phải chịu trách nhiệm hình sự cao hơn bị cáo Q.

[5] Khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.

[5.1] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5.2] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều không có.

[6] Xét thấy, với hành vi phạm tội như trên của các bị cáo cần xử phạt tù, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nhằm giáo dục, răn đe các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[7] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo vì các bị cáo không có tài sản.

[8] Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng dân sự:

[8.1] Đối với số pháo hoa nổ và pháo nổ còn lại sau giám định là hàng cấm cần tịch thu tiêu hủy.

[8.2] Đối với số tiền 25.000.000 đồng, điện thoại di động Iphone, xe ô tô Camry kèm theo Giấy chứng nhận đăng ký xe thu giữ của bị cáo Q và xe mô tô thu giữ của bị cáo A là tiền dùng để mua pháo và là công cụ, phương tiện phạm tội cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.

[8.2] Đối với điện thoại di động Itel thu giữ của bị cáo Q không liên quan đến tội phạm cần trả cho bị cáo nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[9] Đối với người đàn ông người Campuchia tên T3 đã bán pháo nổ cho Đặng Văn A, do A khai không rõ họ tên, địa chỉ, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa làm việc được, khi nào làm việc được xử lý sau.

[10] Đối với người tên C1 đã mua pháo nổ của Nguyễn Văn Q, do Q khai không rõ họ tên, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa làm việc được, khi nào làm việc được xử lý sau.

[11] Đối với 02 lần mua bán pháo nổ vào ngày 27/10/2024 và 31/10/2024 mà Nguyễn Văn Q và Đặng Văn A khai nhận, do không xác định được khối lượng pháo nổ mà Q và A đã thực hiện việc mua bán nên không có căn cứ xử lý.

[12] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

5

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Đặng Văn A (Tửng) 09 (chín) năm tù về tội “Buôn bán hàng cấm”, thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày 06/11/2024.
  2. Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 08 (tám) năm tù về tội “Buôn bán hàng cấm”, thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày 02/11/2024.
  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

    3.1. Tịch thu tiêu hủy đối với:

    • - 01 thùng giấy Carton được niêm phong ghi số 2181/M1 có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Văn N, Trợ lý Giám định Nguyễn Thị Thùy D và dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh T bên trong có 66,5 kg pháo nổ.
    • - 01 thùng giấy Carton được niêm phong ghi số 2181/M2 có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Văn N, Trợ lý Giám định Nguyễn Thị Thùy D và dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh T bên trong có 65,7 kg pháo nổ.

    (Vật chứng đang tạm giữ tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T theo Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 12/3/2025).

    3.2. Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước: Số tiền 25.000.000 (hai mươi lăm triệu) đồng; 01 xe ô tô mang biển số 60A-825.86, số khung: ACV308002142, số máy: 2AZ1236919 kèm theo Giấy chứng nhận đăng ký xe số: 165870; 01 điện thoại di động Iphone, số Imei: 353.067117015372 (không mở nguồn được) thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn Q.

    3.3. Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước: 01 xe mô tô không mang biển số, số khung: RLHKC2609KY206232, số máy: KC26E1270023 thu giữ của bị cáo Đặng Văn A (Tửng).

    3.4. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn Q 01 điện thoại di động hiệu Itel, số Imei 1: 354624610661869, số Imei 2: 354624610661877 nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

    (Vật chứng đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/02/2025).

  4. Về án phí: Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Các bị cáo Đặng Văn A (Tửng), Nguyễn Văn Q mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  6. Về quyền kháng cáo: Báo cho các bị cáo biết, có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh để xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND H.Tân Châu;
  • - CCTHA-DS H. Tân Châu;
  • - CQĐT Công an H. Tân Châu;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh;
  • - Công an tỉnh Tây Ninh – Phòng PV 06;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - THA phạt tù;
  • - Lưu tập án, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Thành Chung

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2025/HS-ST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH về hình sự (buôn bán hàng cấm)

  • Số bản án: 34/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Buôn bán hàng cấm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Buôn bán hàng cấm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger