Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NINH KIỀU

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2025/HS-ST

Ngày: 25/02/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Văn Hứng

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Mai Hồng.
  2. Bà Đỗ Thị Lệ Hằng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thanh Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Ngô Hoài Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 09/2025/TLST - HS ngày 10 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 84/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Lê Quốc T, sinh năm 1994; tại Hậu Giang (Có mặt).

Đăng ký thường trú: Ấp T, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang.

Nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 09/12; giới tính: Nam.

Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam.

Con ông Lê Vũ L, sinh năm: 1967 (Còn sống) và bà Nguyễn Thị K, sinh năm: 1966 (Còn sống).

Anh ruột: Có 02 người, sinh năm 1984 và 1989.

Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Chưa.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 02/5/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an quận N, thành phố Cần Thơ.

Người bào chữa: Luật sư Nguyễn Văn Quốc S – Công ty L2 và Cộng sự, thuộc Đoàn Luật sư thành phố C (Có mặt).

Địa chỉ: Số B, đường T, phường X, quận N, thành phố Cần Thơ.

- Bị hại: Chị Bùi Yến L1, sinh năm 2002 (Vắng mặt).

Đăng ký thường trú: Ấp P, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang.

Nơi ở hiện nay: Số B, đường C, đường T, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1966 (Có mặt).
  2. Đăng ký thường trú: Ấp T, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang.

  3. Anh Đỗ Thanh B, sinh năm 1989 (Có mặt).
  4. Đăng ký thường trú: Ấp T, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang.

  5. Ông Trần Thanh N, sinh năm 1967 (Vắng mặt).
  6. Đăng ký thường trú: Ấp T, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang.

  7. Bà Trương Thị Tuyết N1 (Vắng mặt).
  8. Đăng ký thường trú: Ấp Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 4/2023, Lê Quốc T quen biết với chị Bùi Yến L1 rồi nảy sinh tình cảm nam nữ với nhau, đến ngày 06/11/2023 T tặng cho chị L1 sợi dây chuyền và mặt dây chuyền vàng mua với giá 2.481.300 đồng. Đến đầu tháng 12/2023, chị L1 chủ động chia tay, T muốn hàn gắn lại tình cảm nhưng chị L1 không đồng ý.

Đến khoảng 23 giờ ngày 14/12/2023, T điều khiển xe mô tô biển số 95H1-277.13 đến gặp chị L1 tại phòng trọ số 60E nhà trọ số B T, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ để nói chuyện. Khi gặp T nói nếu L1 muốn chia tay thì trả lại dây chuyền vàng và chai nước hoa mà T tặng, chị L1 không đồng ý và lấy điện thoại gọi cho bạn thì T giật điện thoại nhưng không được. T xông tới giật lấy sợi dây chuyền của L1 đang đeo trên cổ, T cầm sợi dây chuyền trên tay trái, chị L1 giằng co lấy lại sợi dây chuyền thì T chụp lấy cây dao trên bếp, cầm dao trên tay phải chĩa về hướng chị Lam Đ (cách khoảng 50 cm) nói “Mày tránh ra”, không cho L1 lại gần, rồi T bước vào nhà vệ sinh ném bỏ dây chuyền vào bồn cầu và dội nước. Chị L1 sợ nên bỏ chạy ra đến cổng nhà trọ thì thấy lực lượng Công an phường H nên trình báo sự việc trên, khi T lên xe ra về thì bị lực lượng Công an phường H mời về làm việc. Lúc này, chị L1 quay lại phòng trọ, thấy sợi dây chuyền bị đứt làm 02 đoạn, vẫn còn nằm trong bồn cầu, còn mặt dây chuyền đã bị nước cuốn trôi mất nên nhặt lấy 02 đoạn dây chuyền giao nộp cơ quan Công an.

Vật chứng thu giữ: 02 đoạn dây chuyền vàng (không có mặt); 01 cây dao Thái Lan dài 23cm; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển số 95H1-277.13.

Tại Kết luận định giá tài sản số 255/KL-HĐĐG ngày 30/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân quận N kết luận: Sợi dây chuyền vàng bị đứt thành hai đoạn dây, vàng 10K – kim loại vàng với chất lượng (tuổi) 41,7%, trọng lượng 0,346 chỉ, trị giá 869.844 đồng.

Tại Kết luận định giá tài sản số 1328/KL-HĐĐG ngày 20/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân quận N kết luận: Trị giá của sợi dây chuyền bị chiếm đoạt gồm dây chuyền vàng 10K, màu vàng và mặt dây có gắn đá nhân tạo (đá ECZ) là 2.319.324 đồng.

Quá trình điều tra, bị cáo Lê Quốc T khai nhận hành vi phù hợp với tình tiết vụ việc trên. Mục đích đe dọa dùng vũ lực chiếm đoạt tài sản đã tặng chị L1, T không có ý định chiếm đoạt nhằm mục đích hưởng lợi ích vật chất, cho rằng chị L1 không xứng đáng để đeo nên T vứt bỏ xuống bồn cầu.

Về trách nhiệm dân sự, chị Bùi Yến L1 yêu cầu Lê Quốc T bồi thường thiệt hại về tài sản 1.500.000 đồng. Ngày 12/4/2024, Lê Quốc T giao nộp 1.500.000 đồng cho Cơ quan điều tra để bồi thường thiệt hại cho chị L1. Đồng thời, ngày 06/5/2024, bà Nguyễn Thị K (mẹ ruột của bị cáo) bồi thường tổn thất tinh thần cho chị Bùi Yến L1 số tiền 10.000.000 đồng, chị L1 có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận N đã trả lại tài sản là 02 đoạn dây chuyền và số tiền 1.500.000 đồng cho chị Bùi Yến L1.

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển số 95H1-277.13 là tài sản do Lê Quốc T mua lại của anh Đỗ Thanh B vào ngày 12/9/2023 với giá 7.000.000 đồng, T trả trước 2.000.000 đồng, còn lại trả góp, tổng cộng T mới trả được 2.500.000 đồng, anh Đỗ Thanh B có yêu cầu được nhận lại xe.

Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ ban hành Cáo trạng số: 25/CT-VKSNK ngày 10 tháng 01 năm 2025 truy tố bị cáo Lê Quốc T về tội “Cướp tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa:

  • Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố đã nêu trong Cáo trạng của Viện kiểm sát đối với bị cáo Lê Quốc T về tội “Cướp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử:
  • - Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Lê Quốc T từ 05 năm đến 06 năm tù.

    - Về trách nhiệm dân sự: Chị Bùi Yến L1 đã nhận bồi thường thiệt hại về tài sản 1.500.000 đồng và 10.000.000 đồng tiền bồi thường thiệt hại tổn thất tinh thần và không có yêu cầu gì khác.

    - Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

    • Ghi nhận việc cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả 02 đoạn dây chuyền và số tiền 1.500.000 đồng cho chị Bùi Yến L1.
    • Ghi nhận sự thỏa thuận giữa các đương sự, trả lại anh Đỗ Thanh B 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển số 95H1-277.13, số máy E3X9E037777, số khung RLCUE3220GY011927, anh B có nghĩa vụ trả lại cho bị cáo số tiền 2.500.000 đồng.
    • Tịch thu tiêu hủy 01 dao dài 23cm, cán nhựa dài 08cm, lưỡi dao rộng 4,5cm, khắc chữ KIWI BRAND MADE IN THAILAN.
  • Luật sư Nguyễn Văn Quốc S trình bày bào chữa: Thống nhất đối với cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều về việc truy tố bị cáo Lê Quốc T về tội “Cướp tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015 cũng như đề nghị của Kiểm sát viên về việc áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét mức độ hành vi của bị cáo là không nguy hiểm cho xã hội, xuất phát từ sự nóng nảy, thiếu suy nghĩ, không vì mục đích vụ lợi mà tuyên bị cáo từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.
  • Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố, xin giảm nhẹ hình phạt.
  • Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Đỗ Thanh B trình bày: Đề nghị được nhận lại xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển số 95H1-277.13, đồng ý trả lại cho bị cáo Lê Quốc T số tiền 2.500.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Trong quá trình điều tra và truy tố, Cơ quan Công an và Viện kiểm sát đã thực hiện đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.

[2] Về trách nhiệm hình sự: Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã đủ cơ sở để kết luận:

Vào khoảng 23 giờ ngày 14/12/2023, tại phòng trọ số 60E nhà trọ số B, đường T, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ do có mâu thuẫn về tình cảm nên bị cáo Lê Quốc T yêu cầu chị Bùi Yến L1 trả lại dây chuyền vàng và chai nước hoa mà T đã tặng. Khi chị L1 không đồng ý thì T đã xông tới giật lấy sợi dây chuyền chị L1 đang đeo trên cổ, chị L1 giằng co lấy lại sợi dây chuyền thì T chụp lấy cây dao Thái Lan trên bếp, cầm dao trên tay phải chĩa về hướng chị L1 đứng cách khoảng 50cm nói “Mày tránh ra”, không cho chị L1 lại gần rồi bước vào nhà vệ sinh ném bỏ dây chuyền vào bồn cầu và dội nước.

Xét hành vi sử dụng dao Thái Lan (hung khí nguy hiểm) de dọa dùng vũ lực của bị cáo Lê Quốc T để chiếm đoạt tài sản là sợi dây chuyền vàng của chị Bùi Yến L1 có giá 2.319.324 đồng đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Do đó, việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hội đồng xét xử nhận thấy, bị cáo Lê Quốc T là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực hành vi trách nhiệm hình sự nhưng vì suy nghĩ bồng bột, nông nổi nhất thời bị cáo đã thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của chị Bùi Yến L1. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản được pháp luật hình sự bảo vệ, xâm phạm đến an ninh trật tự tại địa phương; tiềm ẩn nguy cơ gây ảnh hưởng sức khỏe của bị hại. Vì vậy, cần xử lý nghiêm là cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để có tác dụng cải tạo, giáo dục giúp bị cáo thay đổi nhận thức sống, biết đặt mình trong khuôn khổ pháp luật và qua hình phạt cũng để răn đe, trấn áp tội phạm tương tự.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như sau:

  • Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
  • Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
  • Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại cho bị hại và chị Bùi Yến L1 cũng có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Xét bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và 01 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nên Kiểm sát viên đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: “Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật này” là có cơ sở chấp nhận.

[3] Về trách nhiệm dân sự: Chị Bùi Yến L1 đã nhận bồi thường thiệt hại về tài sản 1.500.000 đồng và 10.000.000 đồng tiền bồi thường thiệt hại tổn thất tinh thần và không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[4] Về xử lý vật chứng:

  • Đối với tài sản là 02 đoạn dây chuyền và số tiền 1.500.000 đồng Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trao trả cho bị hại là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
  • Đối với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển số 95H1-277.13 là tài sản do Lê Quốc T mua lại của anh Đỗ Thanh B vào ngày 12/9/2023 với giá 7.000.000 đồng, T trả trước 2.000.000 đồng còn lại trả góp, tổng cộng T đã trả được số tiền 2.500.000 đồng. Do xe mô tô không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên được nhận lại. Tuy nhiên, tại phiên tòa bị cáo và anh Đỗ Thanh B đã thỏa thuận giao xe mô tô lại cho anh B và anh B có nghĩa vụ trả lại cho bị cáo số tiền 2.500.000 đồng.

[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào: Điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Quốc T phạm tội “Cướp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Quốc T 04 (bốn) năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02 tháng 5 năm 2024.

2. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị cáo đã bồi thường cho bị hại tổng số tiền 11.500.000 đồng (Mười một triệu, năm trăm nghìn đồng).

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

  • Ghi nhận việc cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả 02 đoạn dây chuyền và số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) cho chị Bùi Yến L1.
  • Ghi nhận sự thỏa thuận giữa các đương sự, trả lại anh Đỗ Thanh B xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển số 95H1-277.13, số máy E3X9E037777, số khung RLCUE3220GY011927, anh B có nghĩa vụ trả lại cho bị cáo số tiền 2.500.000 đồng (Hai triệu, năm trăm nghìn đồng).
  • Tịch thu tiêu hủy 01 dao dài 23cm, cán nhựa dài 08cm, lưỡi dao rộng 4,5cm, khắc chữ KIWI BRAND MADE IN THAILAN.

4. Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết), để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • Các bị cáo;
  • Những người tgtt;
  • TAND TP.Cần Thơ;
  • VKSND TP.Cần Thơ;
  • VKSND Q.Ninh Kiều;
  • Sở Tư pháp TP.Cần Thơ;
  • Chi cục THADS Q.Ninh Kiều;
  • Nhà Tạm giữ - CA Q.Ninh Kiều;
  • Cơ quan CSĐT CA Q.Ninh Kiều;
  • Cơ quan THAHS CA Q.Ninh Kiều;
  • Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Văn Hứng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2025/HS-ST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về hình sự (cướp tài sản)

  • Số bản án: 34/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cướp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cướp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger