Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VŨ THƯ

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2025/HS-ST

Ngày 21 - 03 -2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨ THƯ, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân Huyền.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tiến Sang và bà Vũ Thị Thanh Tâm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tho - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Huyền Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 03 năm 2025 tại điểm cầu Trung tâm: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình và điểm cầu thành phần: Phân trại Tạm giam khu vực V, thuộc trại Tạm giam Công an tỉnh T để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 24/2025/TLST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 03 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trịnh Công H, sinh năm 2003 tại tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: Xóm A, thôn L, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Công M và bà Nguyễn Thị P, gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; bị cáo chưa kết hôn và có 01 con sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 26/9/2024, hiện đang tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực V, Trại tạm giam Công an tỉnh T. (trích xuất có mặt tại điểm cầu thành phần).

* Bị hại: Chị Lê Ngọc T, sinh năm 1997;

Nơi cư trú: Ngõ A, tổ A, thị trấn V, huyện V, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do. (Vắng mặt)

* Người làm chứng:

- Ông Lê Xuân Q, sinh năm 1948; Nơi cư trú: Tổ A, thị trấn V, huyện V, tỉnh Thái Bình (Vắng mặt).

- Ông Trịnh Công M, sinh năm 1976; Nơi cư trú: Thôn L, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 14/6/2024, Trịnh Công H và chị Lê Ngọc T, sinh năm 1997, cư trú tổ A, thị trấn V, huyện V, tỉnh Thái Bình gặp và quen nhau tại V thành phố T, tỉnh Thái Bình. H xin tài khoản zalo của chị T là “Ngọc T” lập từ số điện thoại “+84 981084979” (hiện lưu tại điện thoại của H là “Vợ yêu”), H kết bạn với T bằng tài khoản Zalo là “Cô H1” lập từ số điện thoại “+84 867464648”. Sau đó, H và chị T nói chuyện qua lại và kết bạn với nhau trên zalo bằng tài khoản Facebook, tài khoản của chị T là “Ngọc T” (lưu là “Vợ I"), tài khoản Facebook của H là “Hoàng N”. Do không có việc làm ổn định, lại ít hơn tuổi chị T nên H nói dối với chị T tên là Phan Nguyễn Thế H1, sinh năm 1991, nhà ở huyện Q, tỉnh Thái Bình. Sau một thời gian, chị T và H nảy sinh tình cảm, quan hệ yêu đương nam nữ.

Đầu tháng 7/2024, cả hai thống nhất tiến tới hôn nhân, chị T dẫn H đến nhà để gặp bố mẹ chị T, nói chuyện xin phép cho tìm hiểu để xin cưới, ông Lê Xuân Q, sinh năm 1948 (bố T) đồng ý và hẹn hai gia đình gặp nhau để bàn chuyện cưới xin. H cũng về nhà trao đổi với ông Trịnh Công M, sinh năm 1976 (bố H) về việc quen biết và cưới chị T và được ông M đồng ý. Sau đó, cả hai có về sống thử, đi du lịch. Thời điểm yêu đương, H và chị T đăng tải ảnh cưới trên mạng xã hội Zalo và Facebook, công khai việc yêu đương, tiến tới hôn nhân. Trong quá trình tìm hiểu và yêu đương, cả hai người thường xuyên đi nhà nghỉ, quan hệ tình dục với nhau, có lần H đã dùng điện thoại Iphone 11 màu trắng chụp lại hình ảnh chị T và H quan hệ tình dục. Đến khoảng ngày 17/9/2024 khi đang ở cùng nhau, chị T hỏi H về việc tổ chức đám cưới, H nói do công việc không ổn định, thừa nhận việc bản thân không có tiền, sợ chị T biết được H không phải người giàu có và nói thật về việc H sinh năm 2003. Thấy vậy, chị T sợ chênh lệch tuổi tác, gia đình hai bên phán đối nên đề nghị chia tay, H níu kéo chị T quay lại nhưng không được nên đã đe dọa chị T sẽ đăng hình ảnh chị T và H quan hệ tình dục lên mạng và bán những hình ảnh nhạy cảm của chị T cho người khác, nhằm mục đích cho chị T sợ hãi. Ngày 23/9/2024, khi chị T đang ở nhà thì nhận được tin nhắn và hình ảnh nhạy cảm của chị T từ tài khoản facebook cá nhân “Hoàng Nguyễn” của H, nhắn tin đe dọa chị T sẽ lan truyền hình ảnh nhạy cảm của chị T ra ngoài. Đến chiều ngày 24/9/2024, do lo sợ H phát tán hình ảnh nhạy cảm nên chị T hẹn gặp H để giải quyết. H hẹn gặp ở GO T, thuộc phường P, thành phố T, đồng thời nhắn tin yêu cầu chị T phải đưa cho H số tiền 5.000.000 đồng để xóa hình ảnh. Khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, H bắt xe taxi từ nhà ở huyện Q đến GO T để gặp chị T. Sau đó, chị T đến gặp H tại GO T, nhưng H không cho chị Thảo C điện thoại của H để xóa hình ảnh nhạy cảm và nói sẽ đăng bán hình ảnh trên, chị T đi về nhà. Tại nhà, chị T sợ hãi việc ảnh hưởng đến danh dự, cuộc sống nên đã sử dụng tài khoản ngân hàng T2 số “19036507993031” chuyển số tiền 5.000.000 đồng đến tài khoản ngân hàng V số “0334263323” mang tên “TRINH CONG HUNG” của H và chị T đến Công an huyện V, tỉnh Thái Bình trình báo sự việc. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V, tỉnh Thái Bình, H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Bản cáo trạng số 35/CT-VKSVT ngày 26 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư truy tố bị cáo Trịnh Công H về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 170 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận thực hiện hành vi như nội dung đã nêu ở trên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

* Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trịnh Công H phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản".

* Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 170; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo H mức án từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam 26/9/2024.

* Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện bồi thường của bị cáo đối với bị hại số tiền 5.000.000 đồng. Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.

* Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại Iphone 11 màu trắng đã qua sử dụng.

Bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình đã truy tố và không có ý kiến tranh luận đối với luận tội của Kiểm sát viên.

Nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, tỉnh Thái Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Các chứng cứ buộc tội bị cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan điều tra. Lời khai nhận tội của bị cáo còn được chứng minh bằng các chứng cứ như: Đơn trình báo và Biên bản ghi lời khai của chị Lê Ngọc T; Biên bản làm việc kiểm tra điện thoại di động Iphone 11 và kèm hình ảnh in nội dung tin nhắn, hình ảnh trên điện thoại bị cáo; Biên bản làm việc kiểm tra điện thoại kèm hình ảnh in nội dung tin nhắn, hình ảnh trên điện thoại của chị Lê Thị T1; Bản kê chi tiết giao dịch tài khoản mang tên Lê Ngọc T và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Xét thấy lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và người làm chứng, phù hợp với các chứng cứ khác về thời gian, địa điểm, hành vi phạm tội. Như vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 24/9/2024, do mâu thuẫn trong việc tình cảm, Trịnh Công H sử dụng hình ảnh nhạy cảm của H và chị Lê Ngọc T nhắn tin đe dọa, uy hiếp tinh thần bằng hình thức đe dọa đăng bán hình ảnh nhạy cảm cho người khác nhằm mục đích ép buộc chị T chuyển số tiền 5.000.000 đồng để xóa hình ảnh.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quan hệ sở hữu và quan hệ nhân thân của người khác được pháp luật bảo vệ, gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, dù nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vì lợi ích vật chất của bản thân, bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, hành vi nêu trên của bị cáo Trịnh Công H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 170 Bộ luật Hình sự.

Điều 170. Tội Cưỡng đoạt tài sản

“1. Người nào đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

...

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả; được bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[4] Đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây tâm lý hoang mang, lo lắng, bất bình trong nhân dân, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an, an toàn xã hội. Mặc dù bị cáo tuổi đời còn trẻ nhưng lại không nghiêm túc tu dưỡng đạo đức, rèn luyện bản thân mà lại có hành vi lợi dụng tình cảm và lòng tin của người khác để đe dọa chiếm đoạt tài sản. Do đó, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng chống, phòng ngừa tội phạm nói chung cho toàn xã hội. Tuy nhiên khi lượng hình Hội đồng cũng cân nhắc đến việc bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định mức hình phạt tương xứng.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 5.000.000 đồng, bị hại đã nhận đủ số tiền, không có yêu cầu bồi thường gì thêm, vì vậy cần ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận này.

[6] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 điện thoại Iphone 11 màu trắng đã qua sử dụng là công cụ bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo và bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 170; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trịnh Công H phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản".
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trịnh Công H mức án 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 26/9/2024.
  3. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại về việc bồi thường số tiền 5.000.000 đồng, bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.
  4. Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại Iphone 11 màu trắng đã qua sử dụng.

    (Vật chứng của vụ án đã chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vũ Thư theo biên bản giao nhận vật chứng và phiếu nhập kho ngày 26 tháng 02 năm 2025)

  5. Về án phí: Bị cáo Trịnh Công H phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 21/3/2025. Bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án đã được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - VKSND huyện Vũ Thư;
  • - Bị cáo, bị hại;
  • - Chi cục THADS huyện Vũ Thư;
  • - TAND tỉnh Thái Bình;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Xuân Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2025/HS-ST ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨ THƯ, TỈNH THÁI BÌNH về hình sự sơ thẩm (cưỡng đoạt tài sản)

  • Số bản án: 34/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Cưỡng đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨ THƯ, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trịnh Công H - Cưỡng đoạt tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger