|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA Bản án số: 34/2025/HS-ST Ngày 08 tháng 4 năm 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thành Trung.
Thẩm phán: Bà Bùi Thị Bích Liễu.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Võ Bình Tân.
- Ông Phan Quý Thành.
- Ông Phạm Văn Tuất.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Ngọc Xuân Thiện – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Nam Hải – Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 11/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2025/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2025, đối với bị cáo:
Bùi Nhật Lê M;
sinh năm 1977, tại: Quảng Ngãi; nơi thường trú: Số A đường L, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Nguyên viên chức Phòng quản lý đô thị thành phố C; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Nhật L và bà Lê Thị Thúy P; có vợ (đã ly hôn) và có 02 (hai) người con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Không.
Bị bắt tạm giam từ ngày 25 tháng 12 năm 2023
Bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh K.
Có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Trần Quốc T – Luật sư của Văn phòng L1, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh K.
Vắng mặt tại phiên tòa và có văn bản đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt kèm theo lời bào chữa.
Bị hại:
1. Bà Võ Thị Kim T1, sinh năm 1997; nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường B, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa.
Vắng mặt tại phiên tòa.
2. Bà Nguyễn Thị Thu S, sinh năm 1998; nơi cư trú: Tổ dân phố L, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa.
Vắng mặt tại phiên toà.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Lê Thị Thúy P, sinh năm 1949; nơi thường trú: Số A L, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Là mẹ đẻ của bị cáo.
Có mặt tại phiên tòa.
Người làm chứng:
1. Ông Lê Bá B, sinh năm 1987; nơi cư trú: Tổ dân phố H, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa.
Vắng mặt tại phiên tòa.
2. Bà Lương Thị Thu T2, sinh năm 1970; nơi cư trú: Số A tỉnh lộ 9, tổ dân phố S, phường B, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa.
Vắng mặt tại phiên tòa.
3. Ông Võ Quốc Đ, sinh năm 1955; nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường B, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa.
Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong khoảng thời gian từ tháng 4 năm 2022 đến tháng 10 năm 2022, để có tiền tiêu xài cá nhân, Bùi Nhật Lê M đã nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản của các bà Võ Thị Kim T1 và Nguyễn Thị Thu S thông qua hình thức nhận tiền đặt cọc mua căn hộ dự án nhà ở xã hội tại thành phố C, tỉnh Khánh Hòa do Công ty trách nhiệm hữu hạn T3 làm chủ đầu tư (sau đây gọi là dự án nhà ở xã H) với tổng số tiền là 1.097.393.000 đồng (một tỷ không trăm chín mươi bảy triệu ba trăm chín mươi ba nghìn đồng), cụ thể:
Khoảng tháng 4 năm 2022, biết bà T1 có nhu cầu mua nhà tại dự án nhà ở xã H, Minh tự giới thiệu với bà T1 mình là cán bộ Phòng quản lý đô thị thành phố C, có khả năng đặt mua được các căn hộ nhà ở xã hội. M đề nghị bà T1 đưa tiền để M đặt cọc mua giúp căn hộ nhà ở xã hội theo nhu cầu của bà T1. Tin lời M là thật, bà T1 đã 03 lần chuyển khoản cho M với tổng số tiền 657.893.000 đồng (sáu trăm năm mươi bảy triệu tám trăm chín mươi ba nghìn đồng) nhờ M đặt cọc mua giúp 03 căn hộ tại dự án nhà ở xã H. Sau khi nhận tiền, M không thực hiện việc đặt cọc mua căn hộ như cam kết mà chiếm đoạt tiêu xài cá nhân.
Bà Nguyễn Thị Thu S là bạn quen biết với bà T1, cũng đang có nhu cầu mua căn hộ tại dự án này. Khi biết việc bà T1 đã chuyển tiền cho M nhờ đặt cọc mua căn
hộ tại dự án nhà ở xã H, thông qua bà T1, bà S đã liên hệ và nhờ bà T1 chuyển khoản cho M 02 lần với tổng số tiền 439.500.000 đồng (bốn trăm ba mươi chín triệu năm trăm nghìn đồng) nhờ M đặt cọc mua giúp 02 căn hộ tại dự án nhà ở xã H. Sau khi nhận tiền, M cũng không thực hiện việc đặt cọc mua căn hộ như cam kết mà chiếm đoạt tiêu xài cá nhân.
Quá trình điều tra, xác định: Bùi Nhật Lê Minh hoàn toàn không thực hiện bất cứ giao dịch nào với Công ty trách nhiệm hữu hạn T3. Thậm chí, các số hiệu căn hộ mà M đưa ra thông tin để bà T1, bà S đặt cọc mua (căn hộ hạng 3; căn hộ D: OXH; căn hộ TMDV B01-7-OXH; căn hộ TMDV B02-7-OXH) hoàn toàn không có thật tại dự án nhà ở xã H.
Để tạo lòng tin và che giấu hành vi gian dối chiếm đoạt số tiền đã nhận của bà T1, M đã tự soạn thảo các Văn bản số 4009, 4116 và 4117 ngày 18 tháng 7 năm 2022 và Văn bản số 5963 ngày 01 tháng 8 năm 2022 của Ủy ban nhân dân thành phố C về việc đã nộp tiền đặt cọc mua những căn hộ trên tại dự án nhà ở xã H, thông tin về đối tượng giao dịch – các căn hộ thuộc dự án rồi gửi qua phần mềm nhắn tin Zalo cho bà T1.
Tại Bản kết luận giám định số 340/2023/KL-KTHS ngày 31 tháng 7 năm 2023, Phòng K Công an tỉnh K, kết luận: Chữ ký và chữ viết họ tên “Bùi Nhật Lê M” dưới mục “Bên nhận” trên “Giấy nhận tiền” đề ngày 25 tháng 4 năm 2022, ngày 02 tháng 6 năm 2022, ngày 21 tháng 7 năm 2022 và ngày 29 tháng 8 năm 2022 so với các biên bản ghi lời khai ngày 29 tháng 11 năm 2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K dưới mục “Người khai” có chữ ký và viết mang tên “Bùi Nhật Lê M” là do cùng một người ký, viết ra.
Tại Cáo trạng số 102/CT-VKSKH-P1 ngày 01 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa truy tố bị cáo Bùi Nhật Lê M về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.
Trình bày luận tội, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Kết tội bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng và xử phạt Bùi Nhật Lê M từ 08 (tám) năm tù đến 10 (mười) năm tù, sau khi đã xem xét tính chất, mức độ phạm tội; nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Những người bị hại Võ Thị Kim T1 và Nguyễn Thị Thu S đều vắng mặt nên tách việc giải quyết về bồi thường thiệt hại giữa bị cáo và bị hại để giải quyết theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Trình bày lời bào chữa và nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị giảm nhẹ hình phạt và chấp nhận bồi thường cho các bị hại các khoản tiền đã chiếm đoạt sau khi trừ đi số tiền bị cáo và mẹ đẻ của bị cáo đã bồi thường cho bị hại trước khi xét xử.
Tranh luận tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Lê Thị Thúy P không yêu cầu Tòa án giải quyết về số tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) mà bà đã thay bị cáo bồi thường cho bị hại Võ Thị Kim T1 và Nguyễn Thị Thu S.
Các bị hại đều vắng mặt, nhưng theo tài liệu điều tra bà Võ Thị Kim T1 xác nhận đã được bị cáo và bà P bồi thường 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng), yêu cầu bị cáo bồi thường phần còn lại là 457.893.000 đồng (bốn trăm năm mươi bảy triệu tám trăm chín mươi ba nghìn đồng); bà Nguyễn Thị Thu S xác nhận đã được bị cáo và bà P bồi thường 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng), yêu cầu bị cáo bồi thường phần còn lại là 239.500.000 đồng (hai trăm ba mươi chín triệu năm trăm nghìn đồng).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
1.1 Những vấn đề phải chứng minh trong vụ án đã được Cơđiều tra làm rõ, các chứng cứ của vụ án đã được Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát thu thập đầy đủ; hành vi và quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên được thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tốhình sự.
1.2 Bị cáo bị truy tố về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự có mức cao nhất của khung hình phạt là tù chung thân, thuộc trường hợp phải chỉ định người bào chữa theo điểm a khoản 1 Điều 76 của Bộ luật Hình sự. Trong giai đoạn điều tra bị cáo từ chối việc chỉ định người bào chữa. Tòa án đã trả hồ sơ cho Viện kiểm sát yêu cầu chỉ định người bào chữa cho bị cáo và hỏi cung bị can có người bào chữa, nhưng bị cáo tiếp tục từ chối chỉ định người bào chữa vì vậy Viện kiểm sát không thực hiện việc chỉ định người bào chữa cho bị cáo và chuyển lại hồ sơ cho Tòa án. Căn cứ vào khoản 2 Điều 277 và khoản 2 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án đưa vụ án ra xét xử.
1.3 Ông Trần Quốc T – Luật sư của Văn phòng luật sư Trần Quốc T được Tòa án yêu cầu Đoàn Luật sư tỉnh K chỉ định bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm vắng mặt. Tuy nhiên, ông Trần Quốc T có gửi cho Tòa án lời bào chữa, đồng thời bị cáo đồng ý xét xử vắng mặt người bào chữa. Theo quy định tại khoản 2 Điều 291 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt người bào chữa.
1.4 Những người bị hại và người làm chứng được Tòa án triệu tập đều vắng mặt nhưng đã có lời khai ở Cơ quan điều tra và việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, căn cứ vào các Điều 292 và 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Nhật Lê M đã khai nhận những hành vi mà bị cáo đã thực hiện đúng như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã nêu. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với lời khai của người làm chứng cùng với các chứng cứ có trong hồ sơ đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra thu thập. Như vậy, đủ căn cứ để kết luận:
Trong khoảng thời gian từ tháng 4 năm 2022 đến tháng 10 năm 2022, biết được bị hại đang có nhu cầu mua nhà ở xã hội, Bùi Nhật Lê Minh nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của bị hại. Từ đó, M đưa ra nhiều thông tin không có thật như: Giới thiệu mình là cán bộ Phòng quản lý đô thị Cam Ranh là cơ quan quản lý nhà ở, có khả năng mua nhà ở tại dự án nhà ở xã H ... làm cho bà Võ Thị Kim T1 và bà Nguyễn Thị Thu S tin tưởng chuyển tiền nhờ bị cáo đặt cọc mua nhà để chiếm đoạt 1.097.393.000 đồng (một tỷ không trăm chín mươi bảy triệu ba trăm chín mươi ba nghìn đồng), trong đó: Chiếm đoạt của bà T1 657.893.000 đồng (sáu trăm năm mươi bảy triệu tám trăm chín mươi ba nghìn đồng), chiếm đoạt của bà S 439.500.000 đồng (bốn trăm ba mươi chín triệu năm trăm nghìn đồng).
Hành vi đó của bị cáo đã có đủ các yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.
Hành vi của bị cáo có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn, trực tiếp xâm phạm tài sản của người khác gây mất trật tự trị an, phạm tội nhiều lần với số tiền lớn. Vì vậy, cần xử lý nghiêm minh, cách ly xã hội một thời gian dài mới bảo đảm tác dụng giáo dục bị cáo và ngăn ngừa chung.
Tuy vậy, cũng cần phải thấy rằng: Bị cáo có nhân thân tốt; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm đã khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải; đã trực tiếp bồi thường một phần thiệt hại (300.000.000 đồng – ba trăm triệu đồng) và tích cực tác động mẹ đẻ là bà Lê Thị Thúy P bồi thường thêm cho bị hại 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng). Ngoài ra, bị cáo còn có ông nội là liệt sĩ, có cha đẻ là người có nhiều thành tích xuất sắc trong công tác, được tặng thưởng Huy hiệu 55 năm tuổi Đảng với nhiều Huân chương, huy chương và B1 khen trong nhiều lĩnh vực. Vì vậy, Tòa án áp dụng các tình tiết giảm nhẹ này để giảm cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của Nhà nước mà tích cực cải tạo.
[3] Về trách nhiệm dân sự:
Bị cáo phải bồi thường toàn bộ tài sản đã chiếm đoạt cho bị hại, cụ thể:
- Bồi thường cho bà Võ Thị Kim T1 657.893.000 đồng (sáu trăm năm mươi bảy triệu tám trăm chín mươi ba nghìn đồng). Trước khi mở phiên tòa, bị cáo và mẹ đẻ của bị cáo là bà Lê Thị Thúy P đã bồi thường cho bà T1 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng), bị cáo còn phải bồi thường phần còn lại là 457.893.000 đồng (bốn trăm năm mươi bảy triệu tám trăm chín mươi ba nghìn đồng).
- Bồi thường cho bà Nguyễn Thị Thu S 439.500.000 đồng (bốn trăm ba mươi chín triệu năm trăm nghìn đồng). Trước khi mở phiên tòa, bị cáo và mẹ đẻ của bị cáo là bà Lê Thị Thúy P đã bồi thường cho bà S 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng), bị cáo còn phải bồi thường phần còn lại là 239.500.000 đồng (hai trăm ba mươi chín triệu năm trăm nghìn đồng).
Bà Lê Thị Thúy P không yêu cầu Tòa án giải quyết về số tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) mà bà đã thay bị cáo bồi thường cho bà T1 và bà S nên không xét.
[4] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Bùi Nhật Lê M phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;
- Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; các điểm b, s khoảnvà khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 và khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Bùi Nhật Lê M,
- Xử phạt bị cáo Bùi Nhật Lê M 09 (chín) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25 tháng 12 năm 2023.
2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 46; khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 30 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
2.1 Buộc bị cáo Bùi Nhật Lê M phải bồi thường cho bị hại như sau:
- Bồi thường cho bà Võ Thị Kim T1 457.893.000 đồng (bốn trăm năm mươi bảy triệu tám trăm chín mươi ba nghìn đồng).
- Bồi thường cho bà Nguyễn Thị Thu S 239.500.000 đồng (hai trăm ba mươi chín triệu năm trăm nghìn đồng).
2.2 Quy định:
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong các khoản tiền trên, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
3. Về án phí:
Bị cáo Bùi Nhật Lê M phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 31.895.720 đồng (ba mươi mốt triệu tám trăm chín mươi lăm nghìn bảy trăm hai mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 08 tháng 4 năm 2025), để yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm. Những người bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày được tống đạt bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thành Trung |
Bản án số 34/2025/HS-ST ngày 08/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 34/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Vụ án hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Nhật Lê Minh - Lừa đảo
