|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THUẬN HÓA THÀNH PHỐ HUẾ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 34/2025/HS-ST Ngày: 25/03/2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THUẬN HOÁ - THÀNH PHỐ HUẾ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Vinh Phú.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Huệ và bà Ngô Thị Bích Thuỷ.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thái Hoài Phương - Thư ký Toà án nhân dân quận Thuận Hoá, thành phố Huế.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thuận Hoá tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Long - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại phòng xử án Tòa án nhân dân quận Thuận Hóa, thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 37/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2025/QĐXXST-HS ngày 13/3/2025 đối với:
Bị cáo Trần Thị T, sinh ngày 25/9/1995, tại tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H); số CMND: [...]; Nơi cư trú: Tổ A, khu V, phường T, quận T, thành phố H; nghề nghiệp: Thợ cắt tóc; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn S, sinh năm 1963 và bà Trần Thị X (đã chết); tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.
Người đại diện hợp pháp của bị cáo Trần Thị T:
- Ông Trần Văn S, sinh năm 1963 (cha ruột của bị cáo Trần Thị T). Ông Trần Văn S1, sinh năm 1984 (anh ruột của bị cáo Trần Thị T). Địa chỉ: A B, phường P, quận T, thành phố H. Đều vắng mặt. Bà Trần Thị H, sinh năm 1990 (chị ruột của bị cáo Trần Thị T); địa chỉ: 1 N, phường P, quận T, thành phố H. Có mặt.
Người bào chữa của bị cáo:
Bà Hoàng Nhã N – Luật sư Văn phòng V thuộc Đoàn Luật sư thành phố H; Địa chỉ: Tầng B, C T, phường X, quận T, thành phố H. Có mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Anh Trần Nguyễn Hồng Q, sinh năm 1981; Nơi cư trú: Số A N, phường T, thị xã H, thành phố H. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người làm chứng:
- Ông Trương Văn T1, sinh năm 1967; Nơi cư trú: Tổ A, khu V, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
- Ông Trương Văn M, sinh năm 1957; Nơi cư trú: Tổ A, khu V, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
- Ông Nguyễn Đăng H1, sinh năm 1959; Nơi cư trú: Tổ A, khu V, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
- Ông Đoàn Vĩnh K, sinh năm 1957; Nơi cư trú: Tổ A, khu V, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Thực hiện Công văn số 2490/CATP-TH ngày 24/7/2020 của Công an thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay thuộc quận T, thành phố H) về việc rà soát các trường hợp thuộc diện tiếp xúc với bệnh nhân nhiễm Covid 19 tại thành phố Đà Nẵng trở về địa phương, Công an phường T, thành phố H, tỉnh Thừa thiên Huế (nay phường T thuộc quận T, thành phố H) đã xây dựng Kế hoạch số 848/KH-CAP ngày 24/7/2020 về thực hiện công tác phòng, chống dịch Covid 19, đã chỉ đạo, phân công nhiệm vụ cụ thể của các đồng chí cán bộ thuộc Công an phường T. Các đồng chí Cảnh sát khu vực của Công an phường T được phân công nhiệm vụ phối hợp với cán bộ cốt cán ở cơ sở đi rà soát những người dân, hộ gia đình có người đi từ vùng dịch Covid 19 ở thành phố Đà Nẵng trở về địa phương phường T, thành phố H (nay là quận T), để giải thích, thuyết phục, vận động đến Trạm y tế phường Thủy Xuân khai báo y tế theo quy định. Anh Trần Nguyễn Hồng Q (sinh năm 1981, thường trú tại A đường N, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H)) là cán bộ Cảnh sát khu vực 5 của Công an phường T được phân công phối hợp với cán bộ cốt cán của cơ sở rà soát tất cả các hộ dân ở khu V, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay phường T thuộc quận T, thành phố H).
Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 02/8/2020, sau khi nhận được thông tin Trần Thị T là thợ cắt tóc, nhân viên trang điểm làm việc tại thành phố Đà Nẵng đi từ Đà Nẵng về nhà vào ngày 20/7/2020 nhưng không chấp hành việc đến Trạm y tế phường T để khai báo y tế theo quy định, nên anh Trần Nguyễn Hồng Q cùng với một số cán bộ cơ sở đến giải thích, vận động thuyết phục. Khi đến nơi, anh Trần Nguyễn Hồng Q mặc quân phục ngành Công an, dựng xe môtô hiệu Jupiter biển kiểm soát 75B1-091.72 ở ngoài đường (gần cổng nhà của gia đình Trần Thị T), sau đó anh Trần Nguyễn Hồng Q đi bộ vào nhà gia đình Trần Thị T giải thích, vận động, thuyết phục Trần Thị T đến Trạm y tế phường T, thành phố H (nay thuộc quận T) khai báo y tế theo quy định nhưng Trần Thị T không chấp hành, mà dùng lời lẽ thô lỗ chửi anh Trần Nguyễn Hồng Q, xông đến, và có hành vi dùng vũ lực chống trả lại bằng cách dùng tay giật khẩu trang của anh Trần Nguyễn Hồng Q đang đeo ở mặt làm anh Q bị xướt da ở vùng mặt. Sau đó, Trần Thị Thảo Đ lui sau nhà bếp lấy 01 (một) cây rựa (dạng dao rựa) dài 52 cm (có phần cán bằng tre hình trụ tròn dài 23 cm, đường kính cán 02 cm, phần lưỡi bằng kim loại dài 29 cm) chạy ra rượt đuổi đe dọa chém anh Trần Nguyễn Hồng Q. Thấy vậy, anh Trần Nguyễn Hồng Q bỏ chạy, Thảo cầm rựa (dio rựa) rượt đuổi theo một đoạn khoảng 30m thì không đuổi nữa mà đi về lại nhà của gia đình mình. Khi T đang đi về lại nhà, T thấy xe môtô biển kiểm soát 75B1-091.72 của anh Q đang để ở ngoài đường (gần cổng nhà của gia đình T), T dùng chân đạp đổ xe ngã xống mặt đường (làm 01 gương chiếu hậu của xe bung ra và rơi tại mặt đường), T tiếp tục dùng rựa (dao rựa) chém một nhát vào yên xe (làm yên xe mô tô 75B1-091.72 bị rách 01 vết, có kích thước (0,05 x 0,001) mét). Anh Trần Nguyễn Hồng Q không thực hiện được nhiệm vụ công vụ của mình nên cùng cán bộ cơ sở trở về trụ sở Công an phường T báo cáo nội dung sự việc cho lãnh đạo Công an phường T, sau đó lãnh đạo Công an phường T báo cáo Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H (nay là quận T) biết để giải quyết theo quy định của pháp luật.
Sau khi sự việc xảy ra; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H (nay là quận T) đã tiến hành khám nghiệm hiện trường theo quy định của pháp luật; tiến hành xem xét dấu vết trên thân thể của anh Trần Nguyễn Hồng Q, kết quả ghi nhận trên mặt anh Q có một vết rách da dài 2,5 cm, rộng 0,1cm, phía trên cách đuôi dái tai phải 1,7 cm, phía dưới cách dái tai phải là 2,5 cm.
Ngày 15/06/2022, Toà án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế đã ra Quyết định trưng cầu giám định số: 2016 để giám định pháp y tâm thần đối với bị can Trần Thị T. Ngày 04/08/2022, Trung tâm P đã ban hành kết luận giám định pháp y tâm thần số 1430, kết luận như sau:
“* Trước thời điểm gây án:
a. Về mặt y học: Tâm thần phân liệt thể Paranoid, tiến triển liên tục (F20.00).
b. Về khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi: Hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi.
* Tại thời điểm gây án:
a. Về mặt y học: Tâm thần phân liệt thể Paranoid, tiến triển liên tục (F20.00).
b. Về khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi: Hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi.
* Thời điểm hiện tại
a. Về mặt y học: Tâm thần phân liệt thể Paranoid, tiến triên liên tục, giải đoạn bệnh cấp tính (F20.00).
Đối tượng cần được điều trị bắt buộc hoặc điều trị nội trú tại cơ sở chuyên khoa tâm thần.
b. Về khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi: Mất khả năng nhận thức và mất khả năng điều khiển hành vi”.
Ngày 24/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay quận T) ban hành Quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh số 01/QĐ- VKSTPH. Ngày 19/8/2024, Bệnh viện Tâm thần thành phố Đ thông báo tiếp nhận đối tượng Trần Thị T. Ngày 29/11/2024, Bệnh viện Tâm thần thành phố Đ thông báo quá trình điều trị bắt buộc đối tượng Trần Thị T đã ổn định về mặt tâm thần và hành vi.
Ngày 13/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã ra Quyết định trưng cầu giám định số: 4348 để giám định pháp y tâm thần đổi với bị can Trần Thị T. Ngày 26/12/2024, Trung tâm P đã ban hành kết luận giám định pháp y tâm thần số 2371/KLGĐ, kết luận như sau:
“1. Kết luận:
Căn cứ theo “Bảng phân loại quốc tế mã hoá bệnh tật, nguyên nhân tử vong ICD- 10";
Căn cứ Bộ luật Hình sự 2015,
Căn cứ hướng dẫn chẩn đoán, Kết luận giám định pháp y tâm thần 70 bệnh/Rối loạn tâm thần và hành vi thường gặp (Ban hành kèm theo Quyết định số 4293/QĐ-BYT ngày 19 tháng 9 năm 2019 của Bộ trưởng Bộ Y);
Sau thảo luận, các giám định viên tham gia giám định xác định đối tượng: Trần Thị T
* Thời điểm hiện tại:
a. Kết luận về y học: Tâm thần phân liệt thể Paranoid, tiến triển từng giai đoạn có thuyên giảm (F20.03).
b. Kết luận về khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi: Hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi.
2. Ý kiến khác: Không”.
* Vật chứng thu giữ gồm:
- 01 (một) cây rựa (dạng dao rựa) dài 52 cm, có phần cán bằng tre hình trụ tròn dài 23 cm, đường kính cán 02 cm; phần lưỡi bằng kim loại dài 29 cm, phần rộng nhất của lưỡi là 3,6 cm;
- 01 (một) xe môtô hiệu Jupiter, biển kiểm soát 75B1-091.72;
- 01 (một) mũ bảo hiểm màu xanh;
- 01 (một) cái gương chiếu hậu của xe mô tô, có mặt gương hình tròn, đường kính 0,098 mét, gọng bằng kim loại dài 0,147 mét.
* Về xử lý vật chứng: Ngày 11/8/2020 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H (nay quận T) ra Quyết định xử lý vật chứng số 155, trả lại xe môtô hiệu Jupiter biển kiểm soát 75B1-091.72 cho anh Trần Nguyễn Hồng Q. Đối với 01 (một) cây rựa (dạng dao rựa) dài 52 cm; 01 (một) mũ bảo hiểm màu xanh và 01 (một) gương chiếu hậu của xe mô tô đã chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Huế (nay quận T) để phục vụ xét xử, thi hành án ngày 14/8/2020.
* Về trách nhiệm dân sự: Anh Trần Nguyễn Hồng Q xét thấy thương tích bị xước da ở mặt không đáng kể, xe môtô bị hư hỏng nhẹ nên không yêu cầu Trần Thị T phải bồi thường.
Tại bản cáo trạng số 49/CT-VKSTH ngày 10 tháng 02 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân quận Thuận Hóa đã truy tố bị cáo Trần Thị T về tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm i, s, q khoản 1 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Thị T từ 06 đến 09 tháng cải tạo không giam giữ. Cho bị cáo được miễn khấu trừ thu nhập.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy 01 (một) cây rựa (dạng dao rựa) dài 52 cm, 01 (một) mũ bảo hiểm màu xanh và 01 (một) gương chiếu hậu của xe mô tô.
Người bào chữa cho bị cáo phát biểu quan điểm bào chữa với nội dung thống nhất với tội danh, điều luật áp dụng, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đại diện viện kiểm sát đã nêu. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh của bị cáo để cho bị cáo được hưởng mức án cải tạo không giam giữ nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, Viện kiểm sát nhân dân quận T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên đều hợp pháp.
[2]. Về nội dung vụ án:
Xét hành vi của bị cáo Trần Thị T, Hội đồng xét xử thấy rằng: Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 02/8/2020, tại Tổ A, khu vực 5 phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay phường T thuộc quận T, thành phố H), sau khi nhận được tin báo Trần Thị T làm việc tại thành phố Đà Nẵng, đi từ thành phố Đà Nẵng (nơi có dịch bệnh Covid 19) về nhà của gia đình mình vào ngày 20/7/2020 nhưng không chấp hành việc đến Trạm y tế phường T, thành phố H (nay thuộc quận T) để khai báo y tế theo quy định, anh Trần Nguyễn Hồng Q là cán bộ Cảnh sát khu vực của Công an phường T, thành phố H (nay quận T) đi đến gặp Trần Thị T và đang thực hiện nhiệm vụ công vụ vận động, thuyết phục Trần Thị T đến Trạm y tế phường T, thành phố H (nay thuộc quận T) để khai báo y tế theo quy định về phòng, chống dịch bệnh Covid 19 thì Trần Thị T không chấp hành, Trần Thị T dùng lời lẽ thô lỗ chửi, có hành vi dùng tay giật khẩu trang của anh Trần Nguyễn Hồng Q đang đeo trên mặt làm cho anh Trần Nguyễn Hồng Q bị xây xước nhẹ ở vùng mặt và dùng rựa (dạng dao rựa) rượt đuổi đe dọa chém anh Trần Nguyễn Hồng Q, nhằm cản trở việc anh Trần Nguyễn Hồng Q thực hiện nhiệm vụ công vụ của mình.
Hành vi của bị cáo Trần Thị T dùng vũ lực để đe dọa, tấn công anh Trần Nguyễn Hồng Q là Công an phường T đang thực hiện công vụ, làm cản trở anh Trần Nguyễn Hồng Q thực hiện công vụ của mình nên đã phạm vào tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Thuận Hoá, thành phố H đã truy tố bị cáo theo tội danh, điều luật như trên là đúng người, đúng tội, không oan.
[3]. Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Trong thời điểm cả nước đang tập trung thực hiện phòng chống dịch Covid-19, bị cáo T là người đi từ vùng dịch trở về địa phương mặc dù đã được người có thẩm quyền giải thích, vận động bị cáo T đi khai báo y tế theo quy định, nhưng bị cáo vẫn cố tình không chấp hành và còn dùng vũ lực đánh người được phân hướng dẫn người dân đến trung tâm y tế phường T thực hiện khai y tế, đo thân nhiệt phòng chống dịch Covid-19.
Tại thời điểm gây án, bị cáo có bệnh bị hạn chế năng lực nhận thức và khả năng điều khiển hành vi, tuy nhiên, bị cáo vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội mà mình gây ra. Hành vi mà bị cáo Trần T đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến việc thực hiện nhiệm vụ của người đang thi hành công vụ và hoạt động của Nhà nước về quản lý hành chính trong lĩnh vực thi hành nhiệm vụ công mà còn làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương, ảnh hưởng đến công tác về phòng, chống dịch bệnh Covid 19; nên cần áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo nhằm giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo vì được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã thành khẩn khai báo, người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của mình quy định tại các điểm i, s, q khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào, nhân thân tốt. Với các nội dung nêu trên, xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo cải tạo tại cộng đồng dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương và gia đình cũng đủ tác dụng răn đe và đảm bảo việc điều trị bệnh, giáo dục bị cáo trở thành một công dân tốt. Do vậy, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo theo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thuận Hóa tại phiên tòa để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định, hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi. Nên Hội đồng xét xử miễn khấu trừ thu nhập hàng tháng đối với bị cáo.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Anh Trần Nguyễn Hồng Q bị thương tích xước da ở mặt không đáng kể, xe mô tô bị hư hỏng nhẹ nên không yêu cầu bị cáo T phải bồi thường, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 (một) cây rựa (dạng dao rựa) dài 52 cm, có phần cán bằng tre hình trụ tròn dài 23 cm, đường kính cán 02 cm; phần lưỡi bằng kim loại dài 29 cm, phần rộng nhất của lưỡi là 3,6 cm là công cụ phạm tội đã cũ nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 (một) mũ bảo hiểm màu xanh và 01 (một) cái gương chiếu hậu của xe mô tô, có mặt gương hình tròn, đường kính 0,098 mét, gọng kính bằng kim loại dài 0,147 mét thuộc quyền sở hữu của anh Trần Nguyễn Hồng Q. Do đã bị hư hỏng và anh Q không có yêu cầu nhận lại và không còn giá trị nên tịch thu tiêu hủy.
[6]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Trần Thị T phạm tội “Chống người thi hành công vụ".
2. Về trách nhiệm hình sự:
Căn cứ khoản 1 Điều 330; điểm i, s, q khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Trần Thị T 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ.
Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an thành phố H nhận được quyết định thi hành án. Cho bị cáo Trần Thị T được miễn khấu trừ thu nhập.
Giao bị cáo Trần Thị T cho Ủy ban nhân dân phường T, quận T, thành phố H; có trách nhiệm giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã trong việc giám sát, giáo dục.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 Luật Thi hành án hình sự 2019.
Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật Thi hành án hình sự.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên:
Tịch thu tiêu hủy các vật chứng sau đây:
- 01 (một) cây rựa (dạng dao rựa) dài 52 cm, có phần cán bằng tre hình trụ tròn dài 23 cm, đường kính cán 02 cm; phần lưỡi bằng kim loại dài 29 cm, phần rộng nhất của lưỡi là 3,6 cm; 01 (một) mũ bảo hiểm màu xanh; 01 (một) cái gương chiếu hậu của xe mô tô, có mặt gương hình tròn, đường kính 0,098 mét, gọng kính bằng kim loại dài 0,147 mét.
Vật chứng trên có đặc điểm như mô tả trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 14 tháng 8 năm 2020 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Huế.
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Trần Thị T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Hồ Vinh Phú |
Bản án số 34/2025/HS-ST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THUẬN HOÁ - THÀNH PHỐ HUẾ về hình sự sơ thẩm (chống người thi hành công vụ)
- Số bản án: 34/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Chống người thi hành công vụ)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THUẬN HOÁ - THÀNH PHỐ HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Thị T về tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự
