|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN TP. ĐÀ NẴNG Bản án số: 34/2025/HS-ST Ngày: 25 - 3 - 2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Đoàn Công Quốc |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Nguyễn Tuấn Ngọc |
| Ông Trần Văn Sơn |
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Bích Hậu – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Tâm - Kiểm sát viên
Ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 27/2025/TLST- HS ngày 28/02/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Ngọc Hoàng L
sinh ngày 06/3/1996 tại Quảng Trị; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: 12 H, tổ B, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng; Chỗ ở: P, Khách sạn N - lô D đường T, phường M, quận N, thành phố Đà Nẵng; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Phụ bếp; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Ngọc H và bà Nguyễn Thị L1; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 08/11/2024. Có mặt.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Mạnh C, sinh năm 1994; Trú tại: D T, phường M, quận N, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.
- Anh Hồ Trọng T, sinh năm 2004; Trú tại: Tổ D, phường H, quận N, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
- Anh Huỳnh Trung H1, sinh năm 2006; Trú tại: Thôn B, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
- Ông Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1966; Trú tại: Tổ B, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và qua diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 07 giờ 30 phút ngày 08/11/2024, tại phòng 201 khách sạn N, địa chỉ lô D đường T, phường M, quận N, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an quận N bắt quả tang Nguyên Ngọc Hoàng L đang có hành vi tàng trữ 01 gói ni lon chứa xác thảo mộc khô và 17 điếu quấn xác thảo mộc khô, L khai là ma túy loại cần sa L tàng trữ nhằm mục đích bán.
Thời điểm kiểm tra, tại phòng còn có anh Hồ Trọng T, anh T cùng làm phụ bếp tại khách sạn N với L và cùng ở tại phòng 201 của khách sạn từ khoảng tháng 8/2024 đến nay.
* Tang vật thu giữ của Nguyễn Ngọc Hoàng L:
- Dưới giường: 01 hộp giấy bên trong có 01 gói ni lon, bên trong chứa xác thảo mộc khô, niêm phong ký hiệu L1 và 17 điếu thuốc, quấn xác thảo mộc khô, niêm phong ký hiệu L2;
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu xanh, gắn sim số 0886.737.577, niêm phong ký hiệu L3;
- 01 cối xay; 01 cân tiểu ly; 02 tệp giấy quấn và 03 bật lửa.
Ông Nguyễn Ngọc H là cha của Nguyễn Ngọc Hoàng L nộp lại số tiền 350.000₫.
Theo Kết luận giám định số 936/KL- KTHS ngày 15/11/2024 của Phòng K - Công an thành phố Đ, kết luận: Thảo mộc khô trong mẫu niêm phong ký hiệu L1, L2 gửi giám định đều là ma túy, loại cần sa, khối lượng mẫu L1: 34,627 gam; L2: 5,266 gam
Tiến hành xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể của L và T cho kết quả: L dương tính với chất ma túy; T âm tính với chất ma túy.
Quá trình điều tra, xác định: Từ khoảng đầu tháng 09/2024 đến ngày 08/11/2024, L đã 02 lần mua tổng khối lượng khoảng 80 gam ma túy cần sa (loại thảo mộc khô) giá 4.500.000đ của một đối tượng không rõ nhân thân lai lịch có tài khoản Telegram “Bà Đ 420” về xay rồi quấn thành điếu để bán lại kiếm lời. L đã bán nhiều lần, cho nhiều người nhưng không nhớ rõ, chỉ xác định được 03 lần bán cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Ngày 03/11/2024, tại khu vực đường N, phường M, quận N, L bán 03 điếu cần sa với giá 150.000đ cho 01 đối tượng tên Đ1 (không rõ nhân thân lai lịch; sử dụng tài khoản zalo “Datt”), Đ1 trả tiền mặt cho L.
Lần thứ hai: Khoảng 00 giờ 50 phút ngày 08/11/2024, tại khu vực trước khách sạn N, L bán 02 điếu cần sa với giá 250.000đ cho 01 đối tượng tên T1 (không rõ nhân thân lai lịch; sử dụng tài khoản zalo “Trường N1”), T1 chuyển tiền từ STK 1049399156 Ngân hàng V mang tên Huynh Trung H2 đến STK 0386868643 Ngân hàng M của L.
Lần thứ ba: Khoảng 01 giờ ngày 08/11/2024, tại khu vực đường N, phường M, quận N, L bán 01 điếu cần sa với giá 100.000đ cho Đ1 (người mua lần thứ nhất). Đ1 chuyển tiền từ T2 (tài khoản trung gian thanh toán momo, không xác định được chủ tài khoản) đến STK 0386868643 Ngân hàng M của L.
Tại bản Cáo trạng số 29/CT –VKS - NHS ngày 26 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng đã truy tố Nguyễn Ngọc Hoàng L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Ngọc Hoàng L từ 07 đến 08 năm tù; Truy thu số tiền bị cáo thu lợi bất chính là 1.500.000đ để sung vào công quỹ Nhà nước; Về vật chứng, đề nghị tịch thu sung công quỹ 01 điện thoại di động hiệu Redmi màu xanh, gắn sim số 0886.737.577 thu giữ của Nguyễn Ngọc Hoàng L; Tịch thu tiêu huỷ các vật chứng là 03 bật lửa, 01 hộp giấy, 01 cân tiểu ly, 01 cối xay, 02 tệp giấy và toàn bộ mẫu hoàn trả sau giám định; Tiếp tục tạm giữ số tiền 350.000₫ do ông Nguyễn Ngọc H giao nộp để đảm bảo việc thi hành án đối với bị cáo.
Bị cáo Nguyễn Ngọc Hoàng L khai nhận: Từ tháng 09/2024 đến ngày 08/11/2024 bị cáo đã 02 lần mua cần sa của đối tượng không xác định lai lịch về để cuốn thành điếu bán lại kiếm lời. Theo đó bị cáo đã bán lại nhiều lần cho nhiều người nhưng không nhớ cụ thể. Bị cáo nhớ bán 03 lần như cáo trạng đề cập, cụ thể là bán cho đối tượng tên Đ1 02 lần tổng cộng 4 điếu giá bán tổng cộng là 250.000đ, bán cho đối tượng tên T1 01 lần 02 điếu giá 250.000đ. Lượng ma túy thu giữ tại chỗ ở của bị cáo là 39,893 gam loại cần sa, bị cáo khai là mua về để bán nhưng chưa bán được, ngoài ra bị cáo thừa nhận mình có sử dụng ma túy từ số ma túy cất giữ tại nơi ở nói trên. Do đó, về tội danh bị cáo thừa nhận Cáo trạng truy tố đối với bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự là đúng tội, bị cáo không có ý kiến gì về thủ tục tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm về với gia đình.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Nguyễn Mạnh C xác định anh chủ hộ kinh doanh khách sạn N, từ khoảng tháng 8/2024 anh có thuê Nguyễn Ngọc Hoàng L vào làm phụ bếp tại khách sạn và cho ở phòng 201 của Khách sạn, anh không biết L cất giấu ma túy tại địa chỉ này.
Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt tại phiên toà nhưng đã có lời khai tại hồ sơ vụ án, phù hợp với lời khai của bị cáo và diễn biến phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm vấn công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố bị cáo cũng như người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại gì, tại phiên toà bị cáo cũng không có ý kiến gì về hành vi, thủ tục tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Xét lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa là phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, do đó Hội đồng xét xử có cơ sở khẳng định Cáo trạng số 29/CT –VKS-NHS ngày 26 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc Hoàng L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng tội.
[3] Xét tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy và có tiền tiêu xài, Nguyễn Ngọc Hoàng L đã mua lượng lớn chất ma túy cần sa mục đích để sử dụng và bán lại kiếm lời. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội, gieo rắc nguy cơ bệnh tật, làm suy thoái giống nòi dân tộc. Do đó đối với bị cáo cần phải bị xử lý nghiêm, cách ly ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục đồng thời làm gương cho người khác. Thông qua việc mua bán trái phép chất ma túy bị cáo xác nhận thu lợi bất chính tổng cộng 1.500.000đ, do đó cần truy thu, buộc bị cáo nộp lại số tiền này để sung vào công quỹ Nhà nước.
Ngoài hình phạt chính Hội đồng xét xử thấy cần căn cứ khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo mới đảm bảo tính răn đe.
[4] Về các tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn. Về nhân thân, bị cáo có nhân thân tốt, là bộ đội xuất ngũ, cha bị cáo là người có thời gian dài phục vụ trong lực lượng vũ trang nhân dân và được Chủ tịch nước tặng thưởng Huy chương Quân kỳ quyết thắng. Do đó Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, giảm cho bị cáo một phần hình phạt khi lượng hình, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
[5] Đối với những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và vấn đề liên quan trong vụ án:
- [5.1] Ngoài hành vi mua bán trái phép chất ma túy bị cáo còn sử dụng trái phép chất ma túy, kết quả thử test bị cáo dương tính với ma túy. Do đó Cơ quan Công an đã ra Quyết xử phạt hành chính. Bị cáo không có ý kiến, yêu cầu gì về nội dung này, Viện kiểm sát không tiếp tục đề cập nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- [5.2] Đối với anh Nguyễn Mạnh C là chủ hộ kinh doanh khách sạn N, thuê bị cáo vào làm bếp và bố trí cho bị cáo ở tại khách sạn, mục đích để phục vụ cư trú và làm việc cho bị cáo. Anh C không biết việc bị cáo cất giấu ma túy tại khu vực phòng ở tại đây. Do đó Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát không đề cập, Hội đồng xét xử không xem xét.
- [5.3] Đối với anh Hồ Trọng T là người cùng ở chung phòng khách sạn với bị cáo tại thời điểm bị bắt nhưng anh T không biết và không tham gia vào việc mua bán trái phép chất ma túy với bị cáo. Kết quả xét nghiệm anh T âm tính với chất ma túy. Do đó Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát không đề cập, Hội đồng xét xử không xem xét.
- [5.4] Đối với anh Huỳnh Trung H1 là chủ số tải khoản 1049399156 mở tại Ngân hàng V, quá trình điều điều tra xác định vào ngày 08/11/2024, có người bạn tên T1 (không rõ nhân thân lai lịch, là bạn quen biết ngoài xã hội) nhờ anh H1 chuyển khoản số tiền 250.000đ vào tài khoản của L, anh H1 không biết là mục đích chuyển tiền để mua ma túy. Do đó Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát không đề cập xử lý, Hội đồng xét xử không đề cập.
- [5.5] Đối với đối tượng sử dụng tài khoản Telegram tên “Bà Đ 420” bán trái phép cần sa cho L; đối tượng tên Đ1, T1 mua ma túy của L hiện chưa xác định được nhân thân lai lịch. Do đó, Cơ quan Công an tiếp tục điều tra làm rõ và xử lý sau, Viện kiểm sát không đề cập nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về xử lý vật chứng:
- [6.1] Đối với vật chứng là 01 điện thoại di động hiệu Redmi màu xanh, gắn sim số 0886.737.577 thu giữ của Nguyễn Ngọc Hoàng L là phương tiện L sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
- [6.2] Đối với số tiền 350.000₫ ông Nguyễn Ngọc H là cha Nguyễn Ngọc Hoàng L nộp lại cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án của bị cáo.
- [6.3] Đối với vật chứng là 03 bật lửa, 01 hộp giấy, 01 cân tiểu ly, 01 cối xay, 02 tệp giấy và 02 bì niêm phong ký hiệu L1, L2 là ma túy, dụng cụ sử dụng để xay, cân, quấn và bao bì gói vỏ hoàn trả sau giám định, xét không còn giá trị sử dụng nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc Hoàng L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
1/ Căn cứ vào: điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Nguyễn Ngọc Hoàng L 07 (B) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/11/2024.
Phạt bổ sung bị cáo số tiền 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng).
Truy thu, buộc bị cáo Nguyễn Ngọc Hoàng L phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính 1.500.000đ (Một triệu năm trăm ngàn đồng) để sung vào công quỹ Nhà nước.
2/ Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
- * Tịch thu tiêu hủy 03 bật lửa, 01 hộp giấy, 01 cân tiểu ly, 01 cối xay, 02 tệp giấy và 02 bì niêm phong ký hiệu L1, L2 hoàn trả kèm theo Quyết định trưng cầu giám định số 1509 ngày 11/11/2024 của Phòng K Công an thành phố Đ.
- * Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Redmi màu xanh, gắn sim số 0886.737.577 thu giữ của Nguyễn Ngọc Hoàng L (Niêm phong ký hiệu L3)
Tiếp tục tạm giữ số tiền 350.000đ (Ba trăm năm mươi ngàn đồng) do cha bị cáo là ông Nguyễn Ngọc H giao nộp để đảm bảo thi hành án đối với nghĩa vụ của bị cáo.
(Vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ngũ Hành Sơn theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/3/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an quận N và Chi cục thi hành án dân sự quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng. Riêng đối với số tiền 350.000đ hiện đang tạm giữ tại tài khoản số 3949.0.1055141.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngũ Hành Sơn mở tại Kho bạc Nhà nước quận N theo Giấy nộp tiền ngày 11/3/2025 của Cán bộ Điều tra Cơ quan Công an thuộc Công an thành phố Đ).
3. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc Hoàng L phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm, báo cho bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay. Riêng người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết hợp lệ bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà (Đã ký) Đoàn Công Quốc |
Bản án số 34/2025/HS-ST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 34/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Ngọc Hoàng L phạm tội mua bán trái phép chất ma túy
