TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 34/2025/HS-ST Ngày 21/03/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Tuấn Linh.
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Hữu Lượng.
2. Ông Ma Quốc Thể
- Thư ký phiên toà: Bà Hà Phương Anh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sơn Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 03 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 30/2025/TLST-HS, ngày 27 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31a/2025/QĐXXST-HS, ngày 10 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:
Nguyễn Văn D; sinh ngày 29 tháng 10 năm 1979 tại huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc; Nơi cư trú: thôn N, xã L, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn M (đã chết) và bà Nguyễn Thị D1, sinh năm 1945; Anh, chị em ruột: Có bốn người, bị cáo là thứ tư; Vợ: Vũ Thị K, sinh năm 1982; Con: có 03 con, lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân:
- + Bản án số 22/2010/HSST ngày 22/6/2010 của Toà án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc, xử phạt 02 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, án phí HSST 200.000 đồng. Ngày 07/01/2012, chấp hành xong toàn bộ Bản án;
- + Bản án số 60/2013/HSST ngày 11/9/2013 của Toà án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc, xử phạt 09 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý, phải chịu án phí HSST 200.000 đồng, truy thu 300.000 đồng. Ngày 28/02/2020, chấp hành xong toàn bộ Bản án;
- + Cơ quan CSĐT Công an tỉnh V đã khởi tố bị can đối với Nguyễn Văn D về tội Mua bán trái phép chất ma tuý, quy định tại khoản 2, Điều 251 Bộ luật Hình sự (Quyết định bổ sung Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 146 ngày 14/01/2025 và Quyết định khởi tố bị can số 22 ngày 15/01/2025);
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/12/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (có mặt).
Nguyễn Kim Đ; sinh ngày 15 tháng 8 năm 1987 tại huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc. Nơi cư trú: thôn V, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Kim T, sinh năm 1960 và bà Phạm Thị K1, sinh năm 1960; Anh, chị em ruột: Có ba người, bị cáo là thứ hai; Vợ: Hoàng Thị N, sinh năm 1995; Con: Có 02 con, lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân:
- + Bản án số 44/2010/HSST ngày 23/9/2010 của Toà án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc, xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội Trộm cắp tài sản, phải chịu án phí HSST 200.000 đồng, án phí dân sự 200.000 đồng. Ngày 23/3/2012 đã chấp hành xong toàn bộ Bản án;
- + Bản án số 28/2015/HSST ngày 21/8/2015 của Toà án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc, xử phạt 08 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý, phải chịu án phí HSST 200.000 đồng, truy thu 200.000 đồng. Ngày 29/4/2021, chấp hành xong toàn bộ Bản án;
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/12/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (có mặt).
Vũ Tiến A; (tên gọi khác: Vũ Bá T1), sinh ngày 26 tháng 01 năm 1978 tại huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Nơi cư trú: tổ dân phố K, thị trấn S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Bá S (đã chết) và bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1943; Anh, chị em ruột: Có sáu người, bị cáo là thứ năm; Vợ: Mã Kim C, sinh năm 1984; Con: Có 03 con, lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân:
- + Bản án số 17/HSST ngày 30/5/2001 của Toà án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang, xử phạt 03 năm tù về tội Cướp tài sản của công dân, phải chịu án phí HSST 50.000 đồng. Ngày 31/8/2002, chấp hành xong toàn bộ Bản án;
- + Bản án số 60/2021/HS-ST ngày 27/4/2021 của Toà án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang, xử phạt 02 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý, án phí HSST 200.000 đồng. Ngày 11/7/2022, chấp hành xong toàn bộ Bản án;
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/12/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (có mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: bà Vũ Thị K, sinh năm 1982; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trú tại: thôn N, xã L, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau
Khoảng cuối tháng 10/2024 (ngày không xác định), Nguyễn Văn D, sinh năm 1979, cư trú tại thôn N, xã L, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc đến khu vực ngã ba thuộc thị trấn T, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 10.000.000 đồng được 01 túi nilon màu trắng viền miệng túi màu đỏ bên trong chứa chất bột màu trắng là heroine, 01 túi nilon màu trắng viền miệng túi màu đỏ bên trong có 07 viên nén ma túy tổng hợp (05 viên màu hồng, 02 viên màu xanh), 01 túi nilon màu trắng viền miệng túi màu đỏ bên trong chứa chất tinh thể màu trắng là ma túy đá. D đem số ma tuý đã mua được về nhà cất giấu, sử dụng dần cho bản thân và bán lại cho người khác để nhằm kiếm lời.
Khoảng 08 giờ ngày 08/12/2024, Vũ Tiến A, sinh năm 1978, cư trú tại tổ dân phố K, thị trấn S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang sử dụng số điện thoại 0378.287.xxx gọi đến số 0325.435.899 của Nguyễn Kim Đ, sinh năm 1987, cư trú tại thôn V, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc (là người quen biết với Tiến A) hỏi mua 4.000.000 đồng ma tuý (Tiến A lưu số của Đ là “Anho”, Được lưu số của Tiến A là “Vu Tt”), Đ đồng ý, hẹn trao đổi mua bán tại khu vực ngã ba xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc. Sau đó, Đ đến nhà D mua 3.000.000 đồng được 01 túi nilon màu trắng có viền màu đỏ bên trong có ma tuý Heroine (H) và 03 viên ma tuý tổng hợp màu hồng. Khoảng 10 giờ cùng ngày, Đ đem số ma tuý trên đi đến khu vực ngã ba xã T, huyện L bán cho Tiến A với số tiền 4.000.000 đồng. Tiến A đem số ma tuý mua được về nhà lấy một phần ma tuý trong 01 viên nén màu hồng trộn với một ít ma tuý Heroine (Heroin) rồi sử dụng bằng hình thức đốt hít vào cơ thể. Số ma tuý Heroine (H) còn lại, Tiến A chia thành 07 gói nhỏ gói bằng giấy nhiều màu cất giấu trong bao thuốc lá Sài G màu bạc tại lán đốt củi tại nhà của Tiến A và cất giấu túi nilon màu trắng bên trong có 03 viên ma tuý tổng hợp màu hồng trong túi áo khoác để trong nhà để sử dụng dần cho bản thân.
Đến ngày 16/12/2024, D còn lại 02 mảnh viên nén ma túy tổng hợp màu hồng, 02 mảnh viên nén ma túy tổng hợp màu xanh và một ít ma túy đá nên tiếp tục đi đến khu vực ngã ba thuộc thị trấn T, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc gặp và mua của người đàn ông không quen biết 24.000.000 đồng được 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa ma tuý Heroine (H) và 10 viên ma tuý tổng hợp màu hồng, 02 viên ma tuý tổng hợp màu xanh rồi mang về nhà cất giấu.
Hồi 19 giờ 50 phút ngày 17/12/2024, Tiến A đem theo 03 gói ma tuý Heroine (H) đi đến đoạn đường thuộc tổ dân phố K, thị trấn S, huyện S thì bị Tổ công tác của Công an thị trấn S, huyện S kiểm tra lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ 03 gói bằng giấy trắng có dòng kẻ, in chữ bên trong có chất bột vón cục màu trắng nghi là ma tuý. Cơ quan CSĐT Công an huyện S, tỉnh Tuyên Quang tiến hành khám xét người và chỗ ở, nơi làm việc của Vũ Tiến A tại tổ dân phố K, thị trấn S, huyện S, phát hiện thu giữ: 01 túi nilon màu trắng viền miệng túi màu đỏ bên trong có 03 viên nén màu hồng, 04 gói giấy nhiều màu bên trong đều chứa chất bột vón cục màu trắng đều nghi là ma tuý. Tiến A khai nhận số ma tuý trên mua của Nguyễn Kim Đ. Mục đích tàng trữ để sử dụng cho bản thân.
Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 18/12/2024, Đ đi nhờ xe mô tô (của người không quen biết) đến nhà D mua 16.600.000 đồng ma tuý được 02 túi nilon màu trắng có viền màu đỏ, trong đó: 01 túi ma tuý Heroine (H) và 01 túi có 10 viên nén ma tuý tổng hợp hình tròn màu hồng. Được đưa D 6.000.000 đồng và nợ lại 10.600.000 đồng. Sau đó, Đ đi nhờ xe mô tô (của người không quen biết) đến thôn L, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc thì xuống đi bộ vào khu vực vắng người lấy một ít ma tuý ra sử dụng bằng hình thức đốt hít vào cơ thể. Hồi 14 giờ ngày 18/12/2024, Được sử dụng ma tuý xong, tiếp tục đi bộ thì bị Tổ công tác của Cơ quan CSĐT Công an huyện S, tỉnh Tuyên Quang phát hiện thu giữ: 01 túi nilon màu trắng viền màu đỏ bên trong chứa chất bột vón cục màu trắng, 01 túi nilon màu trắng viền màu đỏ bên trong có 10 viên nén màu hồng. Được khai nhận số ma tuý trên mua của Nguyễn Văn D. Mục đích Được tàng trữ để bán lại cho người nghiện ma tuý khác kiếm lời.
Hồi 16 giờ 30 phút ngày 18/12/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện S, tỉnh Tuyên Quang tiến hành khám xét người và chỗ ở của Nguyễn Văn D tại thôn N, xã L, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc, phát hiện thu giữ: 01 túi nilon màu trắng viền màu đỏ bên trong có chất bột vón cục màu trắng, 02 mảnh viên nén màu hồng, 01 mảnh viên nén màu xanh, 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong có chất tinh thể màu trắng, 01 mảnh viên nén màu xanh, 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong có chất bột vón cục màu trắng đều nghi là chất ma tuý. Mục đích D tàng trữ để bán lại cho người nghiện ma tuý khác kiếm lời.
Ngày 17 và 18/12/2024, tiến hành xét nghiệm tìm chất ma túy trong cơ thể Vũ Tiến A, Nguyễn Văn D, Nguyễn Kim Đ, kết quả: Vũ Tiến A (+) dương tính với ma túy, Nguyễn Kim Đ (+) dương tính với ma túy loại Heroine, Nguyễn Văn D (+) dương tính với ma túy loại Heroine và M1.
- Tại Kết luận giám định số 29/KL-KTHS ngày 23/12/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh T, kết luận số ma tuý thu giữ của Vũ Tiến A: Chất bột vón cục màu trắng trong phong bì niêm phong ký hiệu M1, M3 gửi giám định là chất ma tuý, loại Heroine (Hêrôin) có tên khoa học là D2, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất, tổng khối lượng 0,301g (Không phẩy ba không một gam); 03 viên nén màu hồng trong bì niêm phong ký hiệu M2 gửi giám định là chất ma tuý, loại Methamphetamine, khối lượng 0,24g (Không phẩy hai bốn gam).
- Tại Kết luận giám định số 35/KL-KTHS ngày 23/12/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh T, kết luận số ma tuý thu giữ của Nguyễn Văn D: Chất bột vón cục màu trắng gửi giám định là chất ma tuý, loại Heroine (Hêrôin) có tên khoa học là D2, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất, tổng khối lượng 1,569g (Một phẩy năm sáu chín gam); Số chất tinh thể màu trắng, số mảnh viên nén màu hồng và màu xanh gửi giám định đều là chất ma tuý, loại Methamphetamine, khối lượng 0,34g (Không phẩy ba bốn gam).
- Tại Kết luận giám định số 36/KL-KTHS ngày 23/12/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh T, kết luận số ma tuý thu giữ của Nguyễn Kim Đ: Chất bột vón cục màu trắng gửi giám định là chất ma tuý, loại Heroine (Hêrôin) có tên khoa học là D2, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất, tổng khối lượng 14,282g (Mười bốn phẩy hai tám hai gam); 10 viên nén màu hồng gửi giám định là chất ma tuý, loại Methamphetamine, khối lượng 0,958g (Không phẩy chín năm tám gam).
Vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện S đã tạm giữ:
- + 03 phong bì niêm phong có chứa ma tuý đã giám định, trong đó: 01 phong bì ghi “Tang vật vụ Vũ Tiến A giám định ngày 18/12/2024”; 01 phong bì ghi “Tang vật vụ Nguyễn Văn D giám định ngày 18/12/2024"; 01 phong bì ghi “Tang vật vụ Nguyễn Kim Được giám định ngày 18/12/2024".
- + 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu SamSung màu đen lắp sim số 0393.117.951 (của Nguyễn Văn D); 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu SamSung màu xanh đen lắp sim số 0378.287.801 (của Vũ Tiến A); 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu SamSung màu đen lắp sim số 0778.596.605 (của Nguyễn Kim Đ); số tiền 20.000.000 đồng (của Nguyễn Văn D) hiện đang gửi tại Tài khoản tạm gửi tại K huyện S.
Tại Cáo trạng số 36/CT-VKSSD, ngày 25/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương đã truy tố Nguyễn Văn D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, điểm p, khoản 2, Điều 251 Bộ luật Hình sự; truy tố Nguyễn Kim Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm p, khoản 2, Điều 251 Bộ luật Hình sự; truy tố Vũ Tiến A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D, Nguyễn Kim Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Vũ Tiến A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- - Áp dụng: điểm b, điểm p, khoản 2, Điều 251; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn D từ 10 năm đến 11 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (18/12/2024).
- - Áp dụng: điểm p, khoản 2, Điều 251; điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Kim Đ từ 09 năm đến 10 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (18/12/2024).
- - Áp dụng: điểm i, khoản 1, Điều 249; điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Vũ Tiến A từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (17/12/2024).
- - Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
- + Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự:
Tịch thu, tiêu hủy 03 phong bì niêm phong có chứa ma tuý đã giám định, trong đó: 01 phong bì ghi “Tang vật vụ Vũ Tiến A giám định ngày 18/12/2024"; 01 phong bì ghi “Tang vật vụ Nguyễn Văn D giám định ngày 18/12/2024"; 01 phong bì ghi “Tang vật vụ Nguyễn Kim Được giám định ngày 18/12/2024”.
Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu SamSung màu đen lắp sim số 0393.117.951 của bị cáo Nguyễn Văn D; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu SamSung màu xanh đen lắp sim số 0378.287.801 của bị cáo Vũ Tiến A; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu SamSung màu đen lắp sim số 0778.596.605 của bị cáo Nguyễn Kim Đ;
Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 6.000.000 đồng, là số tiền bị cáo Nguyễn Văn D do bán ma túy mà có.
Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Vũ Thị K số tiền 14.000.000 đồng.
Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị HĐXX buộc các bị cáo phải chịu án phí và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng các bị cáo đều đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Vũ Thị K đề nghị HĐXX trả lại cho bà số tiền 14.000.000 đồng, nguồn gốc số tiền này do bà lao động mà có không liên quan đến tiền bị cáo Nguyễn Văn D mua bán ma túy mà có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về việc xem xét hành vi của bị cáo:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đều đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất. Ngoài lời khai nhận của các bị cáo, hành vi phạm tội của các bị cáo còn được chứng minh tại biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, kết quả xét nghiệm tìm chất ma túy, biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy có đủ cơ sở để kết luận:
Đối với hành vi mua bán trái phép chất ma túy của Nguyễn Văn D:
Trong các ngày 08 và 18/12/2024, tại nhà ở của Nguyễn Văn D thuộc thôn N, xã L, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc. Nguyễn Văn D đã thực hiện hành vi 02 lần bán trái phép chất ma tuý cho Nguyễn Kim Đ, cụ thể như sau:
- - Lần 1: Buổi sáng ngày 08/12/2024, D đã bán trái phép cho Được 01 túi ma tuý Heroine và 03 viên ma tuý tổng hợp màu hồng với số tiền 3.000.000 đồng.
- - Lần 2: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 18/12/2024, D đã bán trái phép 02 túi nilon màu trắng có viền màu đỏ (trong đó: 01 túi bên trong chứa chất bột vón cục màu trắng, loại Heroine, tổng khối lượng 14,282 gam và 01 túi bên trong có 10 viên ma tuý tổng hợp màu hồng khối lượng 0,958 gam) cho Được với số tiền 16.600.000 đồng (Được đã trả cho D 6.000.000 đồng và nợ lại 10.600.000 đồng).
Ngoài ra, D còn có hành vi tàng trữ trái phép 1,569 gam ma tuý, loại Heroine và 0,34 gam ma tuý, loại Methamphetamine tại nơi ở của mình, với mục đích bán kiếm lời nhưng chưa kịp bán thì bị Cơ quan điều tra phát hiện, thu giữ.
Đối với hành vi mua bán trái phép chất ma túy của Nguyễn Kim Đ:
Khoảng 10 giờ ngày 08/12/2024, tại khu vực ngã ba xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc. Được đã bán cho Vũ Tiến A 01 túi ma tuý, loại Heroine và 03 viên ma tuý tổng hợp màu hồng, loại Methamphetamine với số tiền 4.000.000 đồng. Ngoài ra Được còn có hành vi tàng trữ trái phép 14,282 gam ma tuý, loại Heroine và 0,958 gam ma tuý, loại Methamphetamine, với mục đích bán kiếm lời nhưng chưa kịp bán thì bị Cơ quan điều tra phát hiện, thu giữ.
Đối với hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Vũ Tiến A1:
Hồi 19 giờ 50 phút ngày 17/12/2024, tại tổ dân phố K, thị trấn S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Vũ Tiến A đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,301 gam ma tuý, loại Heroine và 0,24 gam ma tuý, loại Methamphetamine. Mục đích tàng trữ để sử dụng cho bản thân.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về quản lý và sử dụng các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương và gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Bản thân các bị cáo nhận thức rõ tác hại của ma túy, nhưng vẫn thực hiện hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy. Hành vi của các bị cáo không những ảnh hưởng đến sức khỏe của người khác mà còn làm gia tăng tệ nạn xã hội. Trong đó, bị cáo Nguyễn Văn D, Nguyễn Kim Đ mua ma túy bán lại để kiếm lời, bị cáo Vũ Tiến A tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho bản thân. Vì vậy cần phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo để răn đe, giáo dục đồng thời góp phần vào công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên chấp nhận.
[2] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết tăng nặng: Không có. Tuy nhiên các bị cáo đều là người có nhân thân xấu.
Bị cáo Nguyễn Văn D: Bản án số 22/2010/HSST ngày 22/6/2010 của Toà án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc, xử phạt 02 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý; Bản án số 60/2013/HSST ngày 11/9/2013 của Toà án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc, xử phạt 09 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý; Cơ quan CSĐT Công an tỉnh V đã khởi tố bị can đối với Nguyễn Văn D về tội Mua bán trái phép chất ma tuý, quy định tại khoản 2, Điều 251 Bộ luật Hình sự (Quyết định bổ sung Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 146 ngày 14/01/2025 và Quyết định khởi tố bị can số 22 ngày 15/01/2025).
Bị cáo Nguyễn Kim Đ: Bản án số 44/2010/HSST ngày 23/9/2010 của Toà án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc, xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội Trộm cắp tài sản; Bản án số 28/2015/HSST ngày 21/8/2015 của Toà án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc, xử phạt 08 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý;
Bị cáo Vũ Tiến A: Bản án số 17/HSST ngày 30/5/2001 của Toà án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang, xử phạt 03 năm tù về tội Cướp tài sản của công dân; Bản án số 60/2021/HS-ST ngày 27/4/2021 của Toà án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang, xử phạt 02 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo. Bị cáo Nguyễn Văn D có bố ông Nguyễn Văn M được tặng Huân chương kháng chiến hạng Ba; ông Nguyễn Văn T3 (chú ruột) là Liệt sỹ. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự, khi quyết định hình phạt cần áp dụng cho các bị cáo để có mức án phù hợp.
[3] Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra xác định các bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, không có tài sản có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[4] Về việc xem xét tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:
Quá trình điều tra, truy tố các Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm do Luật định. Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, giải quyết vụ án đúng theo trình tự, thủ tục được thể hiện thông qua việc ghi chép, lập biên bản các hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, thực hiện việc xét hỏi, tranh tụng đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[5] Về vật chứng:
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra tạm giữ:
- - 03 phong bì niêm phong có chứa ma tuý đã giám định, trong đó: 01 phong bì ghi “Tang vật vụ Vũ Tiến A giám định ngày 18/12/2024”; 01 phong bì ghi “Tang vật vụ Nguyễn Văn D giám định ngày 18/12/2024”; 01 phong bì ghi “Tang vật vụ Nguyễn Kim Được giám định ngày 18/12/2024”. Xét thấy đây là vật chứng của vụ án, thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu SamSung màu đen lắp sim số 0393.117.951 của bị cáo Nguyễn Văn D; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu SamSung màu xanh đen lắp sim số 0378.287.801 của bị cáo Vũ Tiến A; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu SamSung màu đen lắp sim số 0778.596.605 của bị cáo Nguyễn Kim Đ. Xét thấy, các bị cáo đều sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
- - Đối với số tiền 20.000.000 đồng do bị cáo Nguyễn Văn D giao nộp, trong đó xác định 14.000.000 đồng là tiền của bà Vũ Thị K, vợ bị cáo D nên cần trả lại cho bà K; số tiền còn lại 6.000.000 đồng là tiền của bị cáo xác định nguồn gốc do bán ma túy mà có nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
[6] Về án phí, quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[7] Các vấn đề khác:
Đối với 02 người đàn ông bán ma tuý cho Nguyễn Văn D tại khu vực ngã ba thuộc thị trấn T, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc. Do không xác định được tên, tuổi và địa chỉ cụ thể không có căn cứ điều tra, xử lý. Nên HĐXX không xem xét, giải quyết.
Đối với Vũ Tiến A có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy các ngày 08/12/2024 và ngày 16/12/2024, tại tổ dân phố K, thị trấn S. Trưởng Công an huyện S đã xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức Cảnh cáo;
Đối với Nguyễn Kim Đ có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý vào ngày 18/12/2024, tại thôn L, xã T và Nguyễn Văn D có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý từ tháng 10/2024 đến ngày 18/12/2024, tại thôn N, xã L, cùng huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc. Cơ quan CSĐT Công an huyện S đã chuyển tài liệu liên quan đến Trưởng Công an huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc để xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền. Nên HĐXX không xem xét, giải quyết.
Đối với Vũ Thị K (vợ D) không biết D mua bán trái phép chất ma tuý và cất giấu tiền bán trái phép chất ma tuý nên không đề cập, xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ điểm b, điểm p, khoản 2, Điều 251; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn D.
- - Căn cứ điểm p, khoản 2, Điều 251; điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Kim Đ.
- - Căn cứ điểm i, khoản 1, Điều 249; điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Vũ Tiến A.
Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn D, Nguyễn Kim Đ phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”; Bị cáo Vũ Tiến A phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt:
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 11 (mười một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (18/12/2024).
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Kim Đ 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (18/12/2024).
- - Xử phạt bị cáo Vũ Tiến A 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (17/12/2024).
Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự:
- - Tịch thu, tiêu hủy 03 phong bì niêm phong có chứa ma tuý đã giám định, trong đó: 01 phong bì ghi “Tang vật vụ Vũ Tiến A giám định ngày 18/12/2024”; 01 phong bì ghi “Tang vật vụ Nguyễn Văn D giám định ngày 18/12/2024"; 01 phong bì ghi “Tang vật vụ Nguyễn Kim Được giám định ngày 18/12/2024”.
- - Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu SamSung màu đen lắp sim số 0393.117.951 của bị cáo Nguyễn Văn D; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu SamSung màu xanh đen lắp sim số 0378.287.801 của bị cáo Vũ Tiến A; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu SamSung màu đen lắp sim số 0778.596.605 của bị cáo Nguyễn Kim Đ.
- (Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương ngày 26/02/2025).
- - Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 6.000.000₫ (Sáu triệu đồng) của bị cáo Nguyễn Văn D.
- - Trả lại cho Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Vũ Thị K số tiền 14.000.000đ (Mười bốn triệu đồng).
- (Số tiền trên đã được Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S chuyển vào tài khoản số: 3949.0.1064844.00000 là tài khoản của Chi cục thi hành án Dân sự huyện Sơn Dương mở tại Kho bạc Nhà nước huyện S).
Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án:
Bị cáo Nguyễn Văn D, Nguyễn Kim Đ, Vũ Tiến A mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án;
Các Hội thẩm nhân dân | Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa |
Trần Hữu Lượng – Ma Quốc Thể | Lê Tuấn Linh |
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà |
Bản án số 34/2025/HS-ST ngày 21/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG về hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 34/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn D, Nguyễn Kim Đ phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”; Bị cáo Vũ Tiến A phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
