|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN TỈNH VĨNH PHÚC Bản án số: 34/2025/HS-ST Ngày 19 – 6 – 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Bích
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thúc Giang và bà Nguyễn Thị Kim Luyến
Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Xuân Tú - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phúc Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên tham gia phiên toà: Ông Lưu Hoàng Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 6 năm 2025, tại Tòa án nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 25/2025/TLST- HS ngày 15 tháng 4 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2025/QĐXXST- HS ngày 14 tháng 05 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc đối với bị cáo:
Họ và tên Nguyễn Hữu T, sinh năm 1987 tại Vĩnh Phúc; Hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố B, phường Đ, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị T2; vợ: Vũ Thị Ngọc G và có 02 con lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2017; Tiền sự: Không
Tiền án: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2007/HSST ngày 29/3/2007 của Tòa án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt Nguyễn Hữu T 15 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tịch thu sung quỹ 70.000 đồng, án phí hình sự 50.000 đồng, án phí dân sự trong hình sự 556.000 đồng, buộc bồi thường cho bị hại 11.120.000 đồng. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/8/2011. Chấp hành xong án phí + tiền tịch thu tháng 06/2008, chưa bồi thường cho bị hại (chưa được xóa án tích).
Nhân thân:
- Tại bản án số 23/2007/HSST ngày 30/3/2007 Tòa án nhân dân thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc phạt bị cáo Nguyễn Hữu T 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và phạt 18 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt buộc Nguyễn Hữu T phải chịu chung hình phạt là 30 tháng tù, chấp hành xong hình phạt ngày 26/8/2011, chấp hành xong án phí tháng 6/2008. (đã được xóa án tích).
- Tại bản án số 44/2007/HSST ngày 19/6/2007 Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt Nguyễn Hữu T 18 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt 15 tháng tù của Bản án số 03/2007/HSST ngày 29/3/2007 của Tòa án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc buộc T chấp hành 33 tháng tù. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/8/2011, chấp hành xong án phí tháng 08/2007 (đã được xóa án tích).
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/02/2025 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh V – phân trại tạm giam P. (có mặt)
Bị hại: Chị Nguyễn Thanh L, sinh năm 1990, “vắng mặt”.
Địa chỉ: Phường X, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Tiến N, sinh năm 1970, “vắng mặt”.
Địa chỉ: Phường Đ, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Hữu T là thợ xây nhà cho chị Nguyễn Thanh L. Do cần tiền tiêu sài cá nhân nên T nảy sinh ý định lừa để chiếm đoạt chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, biển kiểm soát (BKS) 88H1 - 265.12 của chị L bán lấy tiền nên khoảng 07 giờ 30 phút ngày 21/9/2024, T gọi điện thoại cho chị L nói dối là không có phương tiện đi làm và nhờ chị L đến nhà đón T đến nhà chị L làm việc. Khoảng 08 giờ 00 phút, sau khi được chị L đón đến nhà chị L thì T nói dối chị L là cho T mượn xe mô tô của chị L để T về nhà lấy đồ dụng cụ xây dựng đến xây nhà cho chị L nhằm mục đích chiếm đoạt chiếc xe mô tô trên bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. Do tin tưởng T nên chị L đã đưa cho T mượn xe mô tô và nói Giấy đăng ký xe để trong cốp (Giấy đăng ký mang tên Đoàn Công T3, sinh năm 1983, trú tại C, P, Vĩnh Phúc) để T đi về nhà lấy đồ.
Khoảng 08 giờ 15 phút cùng ngày, sau khi lừa lấy được chiếc xe mô tô của chị L thì T điều khiển xe đến cửa hàng mua bán xe máy Ngọc P, gặp anh Nguyễn Tiến N, sinh năm 1970 trú tại phường Đ, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc (chủ cửa hàng mua bán xe máy Ngọc P) bán chiếc xe mô tô trên cho anh N, anh N hỏi T về nguồn gốc chiếc xe trên thì T nói dối là xe của chị Vũ Thị Ngọc G, sinh năm 1994 trú tại phường Đ, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc (là vợ của T), vì vợ chồng T không có nhu cầu sử dụng nên muốn bán chiếc xe trên với giá 12.000.000 đồng. Do tin tưởng là xe của vợ chồng T nên anh N đồng ý mua lại chiếc xe mô tô trên, T đưa xe cùng Giấy đăng ký cho anh N và cầm số tiền 12.000.000 đồng rồi bỏ đi tới thành phố Hà Nội sử dụng hết số tiền 12.000.000 đồng để mua sắm đồ cá nhân, ăn uống, đi lại.
Khoảng 10 giờ cùng ngày, do không thấy T đem trả xe nên chị L có gọi điện yêu cầu T trả lại chiếc xe trên cho mình thì T cho chị L biết đã bán xe tại cửa hàng N1 với giá 12.000.000 đồng và hẹn đến 17 giờ 00 phút ngày 21/9/2024, sẽ trả lại xe cho chị L. Tuy nhiên do T đã tiêu sài cá nhân hết số tiền trên nên không có tiền chuộc xe để trả xe cho chị L, chị L đã nhiều lần nhắn tin, gọi điện đòi xe nhưng T vẫn không đem xe đến trả nên chị L đã trình báo đề nghị Cơ quan Công an giải quyết theo quy định của pháp luật.
Quá trình giải quyết vụ án, Cơ quan điều tra đã thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật liên quan cụ thể:
Thu giữ của anh Nguyễn Tiến N: 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại NVX, màu đen, BKS 88H1-265.12, không có gương chiếu hậu hai bên, đã qua sử dụng + 01 giấy đăng ký xe số 000824 mang tên Đoàn Công T3.
Tại Kết luận định giá tài sản số 87 ngày 28/11/2024 của Hội đồng Định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố P kết luận: 01 xe máy BKS: 88H1 – 265.12, nhãn hiệu YAMAHA, số loại NVX, số máy E3Y6E020553, số khung D310JY020557, màu đen, không có gương chiếu hậu hai bên, xe đã cũ, đã qua sử dụng trị giá là 10.500.000 đồng (Mười triệu năm trăm nghìn đồng).
Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô BKS 88H1-265.12 là tài sản của gia đình chị Nguyễn Thanh L mua lại làm phương tiện đi. Ngày 17/12/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô + Giấy đăng ký cho chị L, chị L nhận lại và không có yêu cầu, đề nghị gì về việc bồi thường.
Đối với chiếc điện thoại T sử dụng để gọi điện nhờ chị L đến đón và liên lạc với chị L. Sau khi thực hiện hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, T đã đánh rơi mất, nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.
Đối với hành vi của anh Nguyễn Tiến N, anh N không biết chiếc xe mô tô là tài sản do T lừa đảo mà có được nên đã mua chiếc xe trên, hành vi của anh N không có dấu hiệu tội phạm nên không xem xét xử lý.
Đối với chị Vũ Thị Ngọc G, sinh năm 1994, trú tại phường Đ, (vợ của T), chị G không biết việc T lừa đảo chiếm đoạt tài sản xe mô tô BKS 88H1-265.12, không hưởng lợi, không liên quan đến hành vi phạm tội của T nên không xem xét xử lý.
Trách nhiệm dân sự: Nguyễn Hữu T đã trả cho anh Nguyễn Tiến N số tiền 12.000.000 đồng, anh N nhận đủ số tiền và không có yêu cầu gì, đồng thời có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho T.
Quá trình điều tra làm rõ, bị cáo Nguyễn Hữu T, đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. lời khai phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên truy tố về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là đúng. Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
Tại Cáo trạng số: 30/CT - VKSTPY ngày 14 tháng 4 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên truy tố Nguyễn Hữu T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa kiểm sát viên luận tội đối với bị cáo: Giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng đối với bị cáo Nguyễn Hữu T; sau khi đánh giá tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 174, điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Về án phí bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo không có khiếu nại gì, đại diện Viện kiểm sát không có ý kiến gì về các hoạt động tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Sau khi thẩm tra các chứng cứ có trong hồ sơ, nghe lời khai của bị cáo, ý kiến của Kiểm sát viên, người bào chữa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung vụ án: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà. Nguyễn Hữu T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Xét lời nhận tội của bị cáo là phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ như: Lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; phù hợp với vật chứng thu giữ được. Vì vậy, có đủ cơ sở để khẳng định: Ngày 21/9/2024, do cần tiền để tiêu sài cá nhân nên Nguyễn Hữu T đã nảy sinh ý định lừa để lấy của chị Nguyễn Thanh L 01 xe mô tô BKS 88H1 – 265.12, chị L do tin tưởng T nên đã giao xe cùng giấy tờ xe cho T. Sau khi lừa lấy được xe mô tô của chị L, T đem đến cửa hàng mua bán xe máy Ngọc P để bán cho anh Nguyễn Tiến N là chủ cửa hàng được 12.000.000 đồng sau đó tiêu sài cá nhân hết. Hành vi nêu trên của Nguyễn Hữu T đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 cụ thể khoản 1 Điều 174 quy định:
“. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”
Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc truy tố bị cáo theo Cáo trạng số: 30/CT - VKSPY ngày 14 tháng 04 năm 2025 là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm khắc trước pháp luật mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
[4] Xét nhân thân các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: Bị cáo T là người có nhân thân xấu, đã 3 lần bị xét xử về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, trong đó có một lần chưa được xóa án tích bị cáo không lấy đó làm bài học cho mình tu dưỡng bản thân mà lại tiếp tục phạm tội thể hiện sự coi thường pháp luật của bị cáo. Do vậy cần có hình phạt nghiêm khắc với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát mới có tác dụng giáo dục riêng với bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo bị xử phạt về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, chưa được xóa án tích mà lại tiếp phạm tội nên hành vi của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã chủ động bồi thường thiệt hại cho anh N và anh N có làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[5] Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra và tại phiên tòa làm rõ bị cáo không có tài sản, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo khoản 5 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Tài sản lừa đảo Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị L là chủ sở hữu hợp pháp. Chị L đã nhận lại, không có yêu cầu, đề nghị gì về việc bồi thường. Nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Đối với hành vi của anh Nguyễn Tiến N, anh N không biết chiếc xe mô tô là tài sản do T lừa đảo mà có được nên đã mua chiếc xe trên, hành vi của anh N không có dấu hiệu tội phạm nên không xem xét xử lý. Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Đối với số tiền 12.000.000 đồng tiền mua xe mô tô anh Nguyễn Tiến N trả cho Nguyễn Hữu T, T đã trả cho anh N, anh N nhận đủ số tiền và không có yêu cầu gì. Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
5
[7] Về vật chứng vụ án: Đối với chiếc điện thoại Nguyễn Hữu T sử dụng để gọi điện nhờ chị L đến đón và liên lạc với chị L. Sau khi thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, T đã đánh rơi mất nên Cơ quan điều tra không thu giữ được. Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự;
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu T phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt: Nguyễn Hữu T 01 (Một) năm 06 (S) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam ngày 02 tháng 02 năm 2025.
Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu xét xử phúc thẩm, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Hoàng Văn Bích |
6
7
Bản án số 34/2025/HS-ST ngày 19/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 34/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
