Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc

Bản án số: 34/2025/HS- ST

Ngày 10/4/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Hà.

Thẩm phán: Ông Đặng Văn Quyết.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Hồng Phương.

  2. Ông Lý Đình Đạt.

  3. Ông Đặng Thiên Hùng

Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Lương Mỹ Linh - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Thân Văn N - Kiểm sát viên.

Trong ngày 10/4/2025 tại điểm cầu Trung tâm Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang và điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh H xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 15/2025/HSST ngày 26/02/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2025/QĐXXST-HS ngày 12/3/2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Anh S, sinh năm 1998; tên gọi khác: Nam; giới tính: nam; nơi đăng ký thường trú: Số nhà A, đường P, tổ F, khu G, phường B, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: tự do; trình độ học vấn phổ thông: lớp 8/12; bố: không xác định; mẹ nuôi: Nguyễn Thị T, sinh năm 1962; anh, chị em: gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: chưa.

Nhân thân:

- Ngày 28/02/2012, Chủ tịch UBND quận H, thành phố Hà Nội quyết định đưa vào trường G- Tổng cục C2-HTTP, thời hạn 24 tháng.

- Bản án số 32/2014/HSST, ngày 29/9/2014, TAND huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Bản án số 40/2016/HSST, ngày 21/10/2016, TAND thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 09 tháng tù về tội “Công nhiên chiến đoạt tài sản”.

- Bản án số 01/2017/HSST, ngày 13/01/2017, TAND thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 24 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp với Bản án số 40/2016/HSST, ngày 21/10/2016 buộc S phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 33 tháng tù, chấp hành xong hình phạt ngày 31/7/2019.

- Ngày 03/01/2024, Nguyễn Anh S bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H khởi tố, tạm giam để điều tra về các tội “Giết người”; “Cướp tài sản”; “Tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép và chiếm đoạt vũ khí quân dụng”.

Bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H (Có mặt).

* Luật sư bào chữa cho bị cáo: Bị cáo từ chối chỉ định Luật sư bào chữa.

*Bị hại: anh Nguyễn Duy K, sinh năm 1993 (vắng mặt)

Địa chỉ: thôn T, xã T (nay là phường T), huyện Y (nay là thành phố B), tỉnh Bắc Giang.

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Nguyễn Thị Ngọc A, sinh năm 1996 (vắng mặt)

    Địa chỉ: Số I Q, phường N, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

  2. Anh Mai Văn T1, sinh năm 2002 (vắng mặt)

    Địa chỉ: Thôn Đ, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bị cáo Nguyễn Anh S bị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng đầu tháng 12/2023, anh Nguyễn Duy K, sinh năm 1993, trú tại thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang, thông qua một người bạn tên là T1 (chưa rõ nhân thân lai lịch), giới thiệu anh K với Nguyễn Anh S, sinh năm 1998, trú tại số nhà A, đường P, tổ F, khu G, phường B, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa. Sau đó S dùng nick zalo “Đứa con hoang”, nói dối tên là N1 để liên hệ và hẹn gặp anh K. Khoảng 18 giờ ngày 09/12/2023, S cùng một người tên là C (không rõ lai lịch) đến gặp anh K tại nhà hàng M ở thôn Q, xã T, huyện Y. Khi gặp anh K chỉ một mình S vào nói chuyện, còn C đợi ở ngoài. Tại đây, S nói dối anh K là S làm game tài xỉu trên mạng internet nên có 100 tỷ đồng trong tài khoản muốn đổi sang tiền mặt, anh K sẽ được hưởng hoa hồng 10% nếu đổi tiền sang tài khoản hoặc 35% nếu đổi sang tiền mặt. Anh K nói không có tiền nhưng có thể cùng S đầu tư bất động sản tại địa bàn tỉnh Bắc Giang thì S đồng ý. Tuy nhiên, để được S chuyển tiền thì S yêu cầu anh K phải chứng minh tài chính bằng cách chuyển cho S 500 triệu đồng nên anh K đồng ý. Sau đó, để chiếm đoạt được tiền của anh K, S về Hà Nội liên lạc với Mai Văn T1, sinh năm 2002, trú tại thôn Đ, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa là người quen biết S từ trước, bảo T1 đến xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang gặp anh K để lấy tiền và hứa sẽ trả cho anh T1 300 triệu đồng tiền công. S và T1 khai S không nói cho T1 biết nội dung thỏa thuận giữa S và anh K, T1 khai do nghĩ rằng chỉ giúp S đi lấy tiền từ khách hàng nên T1 đồng ý. Sáng ngày 13/12/2023, T1 đi xe khách từ nhà đến thành phố Hà Nội rồi bắt xe taxi đi đến địa bàn xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang để gặp anh K. Cùng thời điểm đó, S khai S cùng Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1995, trú tại khu B, phường K, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh đi xe ô tô do Đ điều khiển theo sau xe của T1 nhưng không cho T1 biết. Khi xe ô tô của T1 đi đến đoạn đường cách xã T khoảng 01 km, S điện thoại bảo T1 dừng xe lại rìa đường, S đến gặp và đưa cho T1 1.000.000 đồng để trả tiền xe taxi. S bảo T1 khi nào gặp anh K thì gọi video để S nói chuyện với anh K. Sau đó, T1 tiếp tục đi đến nhà anh K, khi gặp anh K, T1 sử dụng nick zalo “Mai Tú” gọi videocall đến nick zalo của S là “Đứa Con Hoang” để S và anh K nói chuyện với nhau. Quá trình nói chuyện, S bảo anh K chuyển khoản 500 triệu đồng như đã thỏa thuận từ trước (ngày 09/12/2023) vào tài khoản ngân hàng của T1. Do tin tưởng vì có T1 làm việc trực tiếp nên anh K sử dụng tài khoản ngân hàng T5 số 19036348542015 chuyển khoản đến tài khoản ngân hàng M1 số 1509200279 của T1 500 triệu đồng. Sau đó T1 xác nhận với S là đã nhận được tiền, ngay lúc đó S bảo T1 chuyển số tiền này đến tài khoản ngân hàng M1 số [...] mang tên Nguyễn Văn Lê . Sau khi T1 chuyển khoản theo yêu cầu của S thì T1 thông báo cho S biết, lúc này S nói dối anh K là đến buổi chiều cùng ngày sẽ chuyển tiền cho anh K rồi S cùng Đ đi về thành phố Hà Nội. S khai trên đường về, S ném bỏ chiếc điện thoại di động xuống mặt đường cho xe ô tô chèn qua nhằm tiêu hủy chứng cứ. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, T1 và anh K đều không liên lạc được với S, do nghi ngờ bị S lừa đảo nên anh K và T1 đến Ngân hàng M1, chi nhánh tỉnh B kiểm tra thì được biết toàn bộ số tiền trong tài khoản mang tên Nguyễn Văn L đã được chuyển đến nhiều tài khoản khác nhau. Đến 17 giờ cùng ngày, anh K và T1 đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B trình báo sự việc.

Sau khi thực hiện hành vi chiếm đoạt 500 triệu đồng của anh K, ngày 03/01/2024, Nguyễn Anh S và Nguyễn Văn Đ đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H, khởi tố về các tội “Giết người”; “Cướp tài sản”; Tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép và chiếm đoạt vũ khí quân dụng”, vụ án xảy ra ngày 26/12/2023 tại địa bàn huyện V, tỉnh Hưng Yên (BL 286-307). Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Anh S khai nhận: Cuối năm 2019, S sang Campuchia (không nhớ địa điểm cụ thể) làm việc cho một đối tượng tên là T2 (thường gọi là Tuấn C1), trong thời gian ở Campuchia, T2 cho S xem 02 tài khoản ngân hàng có 63 tỷ đồng, T2 bảo S về Việt Nam tìm người đổi tiền trong 02 tài khoản này. Nếu đổi tiền sang tài khoản ngân hàng thì S được triết khấu 10% và đổi sang tiền mặt thì được triết khấu 35% trên số tiền đổi được. Khoảng tháng 8/2023, S về địa bàn thành phố M, tỉnh Quảng Ninh để tìm người đổi tiền. Tại đây, S quen biết Đ rồi lập nhóm trên mạng xã hội T3 có tên “Người Lái Đò Campuchia” với các thành viên gồm: S, T2, Đ và Hoàng Anh T4 (Hoàng Anh T có tên thật là Nguyễn Thị Ngọc A, sinh năm 1996, trú tại số I Q, phường N, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa). Mục đích lập nhóm để nói chuyện, bàn bạc việc tìm người đổi tiền. Đầu tháng 12/2023, thông qua danh sách khách hàng do Ngọc A gửi những người có điều kiện kinh tế, có khả năng đổi tiền thì có tên anh K. Thông qua một người có tên là T1 (chưa rõ lai lịch) làm buôn bán bất động sản ở Hà Nội giới thiệu, S đã liên hệ và thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của anh K như đã nêu ở trên. Đối với tài khoản ngân hàng mang tên Nguyễn Văn L là số tài khoản do T2 cung cấp, S không biết gì về tài khoản này và không được hưởng lợi gì từ số tiền chiếm đoạt được của anh K. Nguyễn Thị Ngọc A khai Ngọc A có cửa hàng buôn bán điện thoại tại số I Q, phường N, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa, chỉ biết S do S là khách mua điện thoại, ngoài ra Ngọc A không có quan hệ gì với S (BL 280-282).

Kết quả nhận dạng người qua ảnh, anh K và Mai Văn T1 đều nhận ra Nguyễn Anh S, sinh năm 1998, trú tại số nhà A, đường P, tổ F, khu G, phường B, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa là người chiếm đoạt 500 triệu đồng của anh K vào ngày 13/12/2023 (BL 231-240). Kiểm tra điện thoại di động của Mai Văn T1, phát hiện lịch sử nhắn tin và cuộc gọi ngày 13/12/2023 với nick zalo “Đứa Con Hoang”, phù hợp với thời gian, nội dung lời khai của T1, anh K và bị can S (BL 24-46).

Kết quả sao kê tài khoản Ngân hàng của anh K và T1 xác định ngày 13/12/2023, sau khi anh K chuyển cho T1 500 triệu đồng, T1 đã chuyển số tiền này đến số tài khoản mang tên Nguyễn Văn Lê . Kết quả điều tra xác định chủ tài khoản Nguyễn Văn L, sinh ngày 19/03/1983, trú tại phường M, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên là người đăng ký sử dụng tài khoản Ngân hàng M1 số [...]. Kết quả xác minh tại phường M, thành phố Đ không có công dân nào có thông tin nêu trên nên không có căn cứ để xem xét xử lý. Xác minh số tài khoản mang tên Nguyễn Văn L thì thấy: Ngày 13/12/2023, sau khi T1 chuyển 500 triệu đồng đến, toàn bộ số tiền trong tài khoản này đã được chuyển đi nhiều tài khoản khác nhau và nạp tiền vào các trò chơi trên mạng internet nên không thu hồi được (BL 53-228).

Đối với Mai Văn T1 là người trực tiếp gặp anh K để giúp S nhận tiền, tuy nhiên T1 khai không biết nội dung thoả thuận giữa S và anh K, không được hưởng lợi từ số tiền anh K bị chiếm đoạt. Sau khi anh K bị S chiếm đoạt tiền, T1 cùng anh K đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B trình báo, vì vậy không đủ căn cứ kết luận Mai Văn T1 đồng phạm với Nguyễn Anh S.

Quá trình điều tra vụ án, S khai đối tượng tên là T2 (Tuấn C1) và Nguyễn Văn Đ cùng tham gia thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của anh K, tuy nhiên đối tượng có tên là T2 (Tuấn C1), không xác định được nhân thân lai lịch, còn Nguyễn Văn Đ hiện đã bỏ trốn, ngày 05/01/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H đã ra Quyết định truy nã số 59/QĐ-CSHS, đến nay chưa bắt được nên chưa đủ căn cứ xác định Đ đồng phạm với S về hành vi chiếm đoạt tiền của anh K, khi nào bắt được sẽ xem xét xử lý sau.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Duy K yêu cầu bị can Nguyễn Anh S phải bồi thường số tiền 500 triệu đồng, đến nay S chưa bồi thường.

Tại bản Cáo trạng số 59/CT-VKS-P2 ngày 25/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Anh S về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Anh S khai nhận hành vi phạm tội của mình nhưng xác định cáo trạng truy tố bị cáo về tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là không đúng người, không đúng tội.

Bị cáo S trình bày: bị cáo bị đối tượng T2 ‘Cam” lừa, T2 ở phường Đ, thành phố T ( đã bị đi tù về tội tổ chức đánh bạc”, T2 yêu cầu bị cáo thực hiện theo, thực tế bị cáo đã thực hiện việc rửa tiền cho T2 nhiều lần. Bị cáo không lừa anh K. Bị cáo bị truy tố về tội “rửa tiền” mới là đúng. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét điều tra, triệu tập đối với những người liên quan đến hành vi của bị cáo, không thể xử một mình bị cáo chịu tội. Mai Văn T1 có hành vi đồng phạm đối với bị cáo về hành vi lấy tiền của anh K.

Bị hại là anh Nguyễn Duy K vắng mặt tại phiên toà nhưng có lời khai tại Cơ quan và lời trình bày tại phiên toà ngày 20/01/2025 như sau: anh đã chuyển khoản số tiền 500.000.000đồng đến số tài khoản của T1 theo yêu cầu của N1 (tức bị cáo S). Mục đích anh chuyển khoản số tiền trên theo yêu cầu của N1 là để chứng minh khả năng tài chính nhằm được nhận số tiền 100.000.000.000 (Một trăm tỷ đồng) từ S để đầu tư dự án bất động sản. Sau khi nhận được tiền của anh thì S đã chiếm đoạt số tiền trên của anh. Sau khi chuyển tiền thì anh không nhận lại được tiền từ S nên anh đã đưa anh T1 đến Công an để khai báo và trình bày. Anh yêu cầu bị cáo S phải bồi thường cho anh số tiền đã chiếm đoạt.

Đại diện Viện kiểm sát sau khi phân tích các tình tiết của vụ án đã giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

1. Về trách nhiệm hình sự:

Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Anh S.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Anh S 13 (Mười ba) năm đến 14 (Mười bốn) năm về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 30/12/2024.

2. Về trách nhiệm dân sự:

Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, 585 và Điều 589 Bộ luật dân sự.

Buộc bị cáo S phải bồi thường cho bị hại là anh Nguyễn Duy K số tiền 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng).

3. Về án phí:

Bị cáo phải chịu án phí Hình sự và án phí Dân sự sơ thẩm.

Bị cáo trình bày tranh luận: bị cáo không dùng thủ đoạn gian dối gì để chiếm đoạt số tiền của anh K mà anh K nắm rõ việc thoả thuận và tự nguyện chuyển tiền. Bị cáo không chiếm đoạt được gì của anh K, không được hưởng lợi gì và không được tiêu xài gì, nhưng cáo trạng mô tả do cần tiền chi tiêu cá nhân nên nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của anh K là không đúng. Nên bị cáo không lừa gì của anh K việc có 63 tỷ là sự thật, anh K đã được xem số tiền đó.

Đại diện Viện kiểm sát tranh luận đối đáp: bị cáo cho rằng đối tượng T2 “Cam” chỉ đạo nhưng không xác minh được đối tượng này nên bị cáo phải chịu trách nhiệm với hành vi của mình. Bị cáo có hành vi gian dối đối với anh K để anh K tin tưởng bị cáo có tiền và để anh K chuyển cho bị cáo số tiền 500.000.000đồng. Sau khi nhận được tiền bị cáo đã chặn liên lạc với anh K. Việc bị cáo có được hưởng lời hay không là do ngoài ý muốn của bị cáo. Bị cáo chiếm đoạt tiền của anh K là có thật.

Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo vi phạm pháp luật nhiều lần, bị cáo thực hiện nhiều tội ác, bị cáo không xin giảm nhẹ hình phạt, chỉ đề nghị xử bị cáo đúng người, đúng tội, bị cáo không lừa anh K và không được hưởng lợi gì.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố xét xử: Kể từ khi khởi tố vụ án hình sự, trong giai đoạn điều tra, truy tố vụ án, HĐXX thấy Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật, không có vi phạm gì. Tại giai đoạn xét xử sơ thẩm, Kiểm sát viên bị cáo thực hiện đúng theo quy định của pháp luật, không có hành vi, quyết định tố tụng nào vi phạm tố tụng.

[2]. Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: bị hại là anh Nguyễn Duy K; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Mai Văn T1, chị Nguyễn Thị Ngọc A đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Xét thấy, bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã có lời khai trong hồ sơ, việc vắng mặt những người này không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục xét xử vụ án.

[3]. Xét hành vi của bị cáo: tại phiên toà bị cáo chỉ xác định bị cáo chỉ phạm tội “rửa tiền”, bị cáo làm việc theo sự chỉ đạo của T2, bị cáo không có hành vi gian dối đối với anh K1. Tuy nhiên, căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên toà có đủ cơ sở kết luận:

[4]. Thông qua một người giới thiệu tên là T1 (chưa rõ lai lịch) làm buôn bán bất động sản ở Hà Nội, Nguyễn Anh S biết được anh Nguyễn Duy K, sinh năm 1993, ở thôn T, xã T (nay là phường T), huyện Y (nay là thành phố B), tỉnh Bắc Giang là người có điều kiện kinh tế, nên đã nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản của anh K. Khoảng 18 giờ ngày 09/12/2023, tại nhà hàng M ở thôn Q, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang, S gặp anh K rồi đưa ra thông tin gian dối là S có 100 tỷ đồng trong tài khoản, muốn chuyển tiền cho anh K để cùng đầu tư bất động sản tại Bắc Giang. S yêu cầu anh K phải chứng minh tài chính bằng cách chuyển tiền vào tài khoản của S. Với thủ đoạn nêu trên, khoảng 11 giờ ngày 13/12/2023, S nhờ Mai Văn T1 đến nhà gặp và nhận của anh K 500 triệu đồng thông qua chuyển khoản ngân hàng rồi chiếm đoạt số tiền trên của anh K. Tại phiên toà bị cáo thay đổi lời khai. Hội đồng xét xử đã trả hồ sơ để điều tra bổ sung, Cơ quan điều tra đã điều tra bổ sung những nội dung bị cáo trình bày tại phiên toà nhưng không có căn cứ chứng minh những lời trình bày của bị cáo tại phiên toà là có căn cứ. Do đó, việc thay đổi lời khai của bị cáo là không có căn cứ chấp nhận.

[5]. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản trên là có căn cứ và đúng pháp luật.

[6]. Xét tính chất của vụ án thì thấy: Hành vi của bị cáo Nguyễn Anh S thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng theo quy định của Bộ luật hình sự; để đạt được mục đích chiếm đoạt tài sản của người khác, bị cáo đã có hành vi xâm phạm vào quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Hành vi của bị cáo đã gây ảnh hưởng đến quyền về tài sản của bị hại, gây mất trật tự trị an tại địa phương và gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Do đó, phải có hình phạt tù tương xứng với mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo.

[7]. Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy:

[8]. Về nhân thân: Ngày 28/02/2012, Chủ tịch UBND quận H, thành phố Hà Nội quyết định đưa vào trường G- Tổng cục C2-HTTP, thời hạn 24 tháng; tại Bản án số 32/2014/HSST, ngày 29/9/2014, TAND huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; tại Bản án số 40/2016/HSST, ngày 21/10/2016, TAND thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 09 tháng tù về tội Công nhiên chiến đoạt tài sản; tại Bản án số 01/2017/HSST, ngày 13/01/2017, TAND thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 24 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tổng hợp với Bản án số 40/2016/HSST, ngày 21/10/2016 buộc S phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 33 tháng tù, chấp hành xong hình phạt ngày 31/7/2019. Ngày 03/01/2024, Nguyễn Anh S bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H khởi tố, tạm giam để điều tra về các tội “Giết người”; “Cướp tài sản”; “Tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép và chiếm đoạt vũ khí quân dụng”, bị cáo đã bị đưa ra xét xử nhiều lần nhưng không lấy đó là bài học cho bản thân mà lại tiếp tục phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, chứng tỏ bị cáo là người có nhân thân xấu, khó giáo dục.

[9]. Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự;

[10]. Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[11]. Về hình phạt chính, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát: Bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài mới đủ giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội.

[12]. Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 174 Bộ luật hình sự còn quy định về hình phạt bổ sung có thể là phạt tiền. Tuy nhiên, xét bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, không có công việc ổn định, hiện chưa bồi thường hết được cho bị hại, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo S.

[13]. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, 585 và Điều 589 Bộ luật dân sự.

Bị hại Nguyễn Duy K yêu cầu bị cáo phải trả số tiền 500.000.000 đồng, đến nay bị cáo chưa bồi thường cho anh K nên cần buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại Nguyễn Duy K số tiền 500.000.000đồng (năm trăm triệu đồng).

[14]. Các vấn đề khác:

[15]. Kết quả sao kê tài khoản Ngân hàng của anh K và T1 xác định ngày 13/12/2023, sau khi anh K chuyển cho T1 500 triệu đồng, T1 đã chuyển số tiền này đến số tài khoản mang tên Nguyễn Văn Lê . Kết quả điều tra xác định chủ tài khoản Nguyễn Văn L, sinh ngày 19/03/1983, trú tại phường M, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên là người đăng ký sử dụng tài khoản Ngân hàng M1 số [...]. Kết quả xác minh tại phường M, thành phố Đ không có công dân nào có thông tin nêu trên nên không có căn cứ để xem xét xử lý. Xác minh số tài khoản mang tên Nguyễn Văn L thì thấy: Ngày 13/12/2023, sau khi T1 chuyển 500 triệu đồng đến, toàn bộ số tiền trong tài khoản này đã được chuyển đi nhiều tài khoản khác nhau và nạp tiền vào các trò chơi trên mạng internet nên không thu hồi được (BL 53-228). Hội đồng xét xử đã trả hồ sơ để điều tra bổ sung, nhưng không xác minh được đối tượng L. Hội đồng xét xử kiến nghị cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ đối với L.

[16]. Đối với Mai Văn T1 là người trực tiếp gặp anh K để giúp S nhận tiền, tuy nhiên T1 khai không biết nội dung thoả thuận giữa S và anh K, không được hưởng lợi từ số tiền anh K bị chiếm đoạt. Sau khi anh K bị S chiếm đoạt tiền, T1 cùng anh K đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B trình báo, vì vậy không đủ căn cứ kết luận Mai Văn T1 đồng phạm với Nguyễn Anh S. Hội đồng xét xử, đã trả hồ sơ điều tra bổ sung để làm rõ vai trò của T1 nhưng Cơ quan điều tra xác định chưa có đủ căn cứ kết luận T1 đồng phạm với S, nên chưa có căn cứ để xem xét giải quyết.

[17]. Quá trình điều tra vụ án, S khai đối tượng tên là T2 (Tuấn C1) và Nguyễn Văn Đ cùng tham gia thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của anh K, tuy nhiên đối tượng có tên là T2 (Tuấn C1), không xác định được nhân thân lai lịch, còn Nguyễn Văn Đ hiện đã bỏ trốn, ngày 05/01/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H đã ra Quyết định truy nã số 59/QĐ-CSHS, đến nay chưa bắt được nên chưa đủ căn cứ xác định Đ đồng phạm với S về hành vi chiếm đoạt tiền của anh K, khi nào bắt được sẽ xem xét xử lý sau. Hội đồng xét xử kiến nghị cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ.

[18]. Về án phí: Căn cứ Điều 23, Điều 26 Nghị quyết 326 Nghị quyết 326/2016/UBTVH ngày 16/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Buộc bị cáo Nguyễn Anh S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm của số tiền 500.000.000đồng, cụ thể án phí là: 20.000.000đồng + ( 100.000.000 x 4%) = 24.000.000đồng theo quy định của pháp luật.

[19]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

  1. Về trách nhiệm hình sự:

    Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Anh S.

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Anh S 12 (Mười hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 30/12/2023.

  2. Về trách nhiệm dân sự:

    Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, 585 và Điều 589 Bộ luật dân sự.

    Buộc bị cáo S phải bồi thường cho bị hại là anh Nguyễn Duy K số tiền 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng).

  3. Về lãi suất chậm thi hành án:

    Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không chịu thi hành thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 357; khoản 2, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian và số tiền còn phải thi hành.

  4. Về án phí:

    Áp dụng khoản 1 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Điều 23; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

    Buộc bị cáo Nguyễn Anh S phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 24.000.000đồng (Hai tư triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo:

    Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

    Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt (hoặc niêm yết) bản án.

  6. Về hướng dẫn thi hành án:

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Cơ quan CSĐT- Công an tỉnh Bắc Giang;
  • - Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang;
  • - Trại tạm giam- Công an tỉnh Hưng Yên;
  • - Trại tạm giam -Công an tỉnh Bắc Giang;
  • - Phòng hồ sơ, nghiệp vụ- Công an tỉnh Bắc Giang;
  • - Cổng thông tin điện tử của TAND Tối cao;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS, THS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2025/HS- ST ngày 10/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 34/2025/HS- ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trong ngày 10/4/2025 tại điểm cầu Trung tâm Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang và điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh H xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 15/2025/HSST ngày 26/02/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2025/QĐXXST-HS ngày 12/3/2025 đối với bị cáo: Họ và tên: Nguyễn Anh S, sinh năm 1998; tên gọi khác: Nam; giới tính: nam; nơi đăng ký thường trú: Số nhà A, đường P, tổ F, khu G, phường B, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: tự do; trình độ học vấn phổ thông: lớp 8/12; bố: không xác định; mẹ nuôi: Nguyễn Thị T, sinh năm 1962; anh, chị em: gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: chưa. Nhân thân: - Ngày 28/02/2012, Chủ tịch UBND quận H, thành phố Hà Nội quyết định đưa vào trường G- Tổng cục C2-HTTP, thời hạn 24 tháng. - Bản án số 32/2014/HSST, ngày 29/9/2014, TAND huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. - Bản án số 40/2016/HSST, ngày 21/10/2016, TAND thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 09 tháng tù về tội “Công nhiên chiến đoạt tài sản”. - Bản án số 01/2017/HSST, ngày 13/01/2017, TAND thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 24 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp với Bản án số 40/2016/HSST, ngày 21/10/2016 buộc S phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 33 tháng tù, chấp hành xong hình phạt ngày 31/7/2019. - Ngày 03/01/2024, Nguyễn Anh S bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H khởi tố, tạm giam để điều tra về các tội “Giết người”; “Cướp tài sản”; “Tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép và chiếm đoạt vũ khí quân dụng”. Bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger