Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 34/2025/HS-ST

Ngày: 06-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Hiếu Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Kim Hồng,
  2. Bà Nguyễn Thị Thu Hằng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 07/2025/TLST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Bùi Đức H, sinh ngày 14/10/1989 tại Hải Dương; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: K, phường T, thành phố C, tỉnh Hải Dương; Nơi cư trú: Không có nơi cư trú nhất định; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 09/12, con ông: Bùi Đức C (chết) và bà: Trần Thị N; Hoàn cảnh gia đình: Vợ: Phạm Thị H1 (sinh năm 1986), 01 con sinh năm 2010; Tiền án, tiền sự: Không.

- Bị hại: Bà Nguyễn Thị Kiều T, sinh năm 1970 (vắng mặt).

Địa chỉ: Số A N, xã H, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị bắt tạm giam từ ngày 16/9/2024. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 16 giờ 00 ngày 06/9/2024, Bùi Đức H đi bộ từ Chung cư N đến khu điều trị Công nghệ cao Bệnh viện B, số 326- C Đ, Phường A, Quận A, ngồi chơi điện thoại. Khoảng 21 giờ cùng ngày H đi bộ lên cầu thang giữa tầng 03 và tầng 04 của Bệnh viện nằm ngủ. Đến khoảng 04 giờ 30 phút ngày 07/9/2024, H thức dậy đi lên tầng 04 nhìn thấy chị Nguyễn Kiều T đang nằm ngủ trên giường ngoài hành lang gần cầu thang, mặt quay vào trong tường, bên cạnh chị T có để điện thoại di động hiệu Samsung nên nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại. H đi đến phía đầu giường chị T nằm ngủ, dùng tay lấy điện thoại bỏ vào túi quần và đi ra khỏi bệnh viện. Sau đó, H đi đến cửa hàng điện thoại tại số H Tỉnh lộ 43, khu phố E, phường T, thành phố T gặp anh Trần Xuân Á nói muốn bán điện thoại và nói đây là điện thoại của H nhưng quên mật khẩu. Á đồng ý mua với giá 1.400.000 đồng. H đưa 300.000 đồng nhờ anh Á chuyển khoản vô tài khoản 1019360326 tên “HA THI LE XA" mở tại Ngân hàng V để nạp xu chơi game. Sau đó, H đi về khu vực phường T, Thành phố T.

Sau khi mất trộm tài sản, ngày 10/9/2024, chị Nguyễn Kiều T đến Công an P, Quận A trình báo sự việc, lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q giải quyết.

Cơ quan điều tra tiến hành trưng cầu định giá tài sản bị chiếm đoạt, theo Kết luận định giá tài sản số: 1862/KL-HĐĐGTS ngày 17/09/2024, Hội đồng định giá thường xuyên tài sản trong tố tụng hình sự kết luận tại thời điểm ngày 07/09/2024: 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu S 20, màu vàng hồng, dung lượng 256 GB, hàng chính hãng (tài sản đã qua sử dụng, còn hoạt động, không phụ kiện, thu hồi được) trị giá 5.100.000 (năm triệu một trăm nghìn) đồng.

Qua điều tra xác định Bùi Đức H là người chiếm đoạt chiếc điện thoại di động của chị T. Ngày 16/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã khởi tố, bắt tạm giam đối với Bùi Đức H về tội “Trộm cắp tài sản”.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q: Bùi Đức H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Số tiền bán điện thoại chiếm đoạt được, bị can H đã tiêu xài hết. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản kiểm tra camera tại hiện trường vụ án, lời khai người bị hại, người liên quan và các tài liệu chứng cứ khác Cơ quan điều tra đã thu thập được.

Trần Xuân Á khai, bị cáo Bùi Đức H thường hay đến cửa hàng điện thoại của Á để chuyển tiền điện thoại và mua card điện thoại. Ngày 07/9/2024, H gặp Á bán điện thoại điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy Note 20 màu hồng giá 1.500.000 đồng và nói đây là điện thoại của H nhưng đã quên mật khẩu. Ánh mua điện thoại trên với giá 1.400.000 đồng không biết điện thoại do H phạm tội mà có.

Vật chứng, tài sản thu giữ:

  • 01 (một) điện thoại di động S Note 20 màu hồng; số IMEI 1: 350247871732452; số IMEI 2: bị cáo H chiếm đoạt của Nguyễn Kiều T. Cơ quan điều tra đã trả cho chị Nguyễn Kiều T.
  • 01 (một) điện thoại di động Iphone 11 promax màu xanh; số IMEI 1: 353890106701616; số IMEI 2: 353890106762906, là tài sản cá nhân của Trần Xuân Á, Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã trao trả cho anh Trần Xuân Á.
  • 01 (một) điện thoại di động Vivo Y33 màu xanh; số IMEI 1: 860993056956076; số IMEI 2: 8609930569560668, Xác định là điện thoại cá nhân của Bùi Đức H, không liên quan đến việc phạm tội.

Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 có quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10 chờ xử lý.

Về dân sự: Chị Nguyễn Kiều T và anh Trần Xuân Á không yêu cầu bị can H bồi thường gì về dân sự.

Tại bản Cáo trạng số 17/CT-VKSQ10 ngày 08 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Bùi Đức H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa hôm nay:

- Bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như lời khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh công bố bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo đúng theo nội dung bản cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, bị hại, nêu lên tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và ít nghiêm trọng) của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Bùi Đức H mức án từ 09 (chín) tháng đến 01 (năm) tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

- Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định của pháp luật.

- Lời nói sau cùng của các bị cáo: Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.

[2] Tại Cơ quan điều tra, cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi của mình, qua lời khai nhận của các bị cáo, đối chiếu với lời khai của bị hại, người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 16 giờ ngày 06/9/2024, tại khu điều trị Công nghệ cao Bệnh viện B, số 326- C Đ, Phường A, Quận A, bị cáo Bùi Đức H có hành vi lén lút chiếm đoạt chiếc điện thoại di động hiệu S Note 20 màu hồng, trị giá 5.100.000 đồng của chị Nguyễn Kiều T. Vì vậy, bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 truy tố về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017) là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Việc áp dụng hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Xét bị cáo là người có năng lực hành vi, đủ khả năng nhận thức được việc làm của mình nhưng vì tham lam muốn có tiền tiêu xài cá nhân mà bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Do đó, bị cáo cần phải bị xử phạt nghiêm minh bằng luật hình tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của mình gây ra, cụ thể cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định để cải tạo giáo dục bị cáo thành người tốt cho xã hội, đồng thời cũng để răn đe, giáo dục đối với những người có ý định thực hiện hành vi tương tự, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tệ nạn tại địa phương.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và ít nghiêm trọng nên áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

- Về tình tiết tăng nặng: Không có

- Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo phạm tội lần đầu nên miễn hình phạt bổ sung.

[4] Đối với Trần Xuân Á là người mua chiếc điện thoại di động Vivo Y33 màu xanh từ bị cáo Bùi Đức H nhưng quá trình điều tra xác định ông Á không biết chiếc điện thoại do H phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không tiến hành xử lý là đúng quy định của pháp luật.

[5] Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác:

- Về xử lý vật chứng: 01 (một) điện thoại di động Vivo Y33 màu xanh của bị cáo Bùi Đức H không liên quan đến việc phạm tội nên hoàn trả lại cho bị cáo.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Kiều T cũng như ông Trần Xuân Á không yêu cầu bị cáo bồi thường. Do đó, Tòa án không xem xét, giải quyết.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điều 50; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Bùi Đức H 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 16/9/2024.

- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng;

2. Về xử lý vật chứng: Trả lại cho Bùi Đức H 01 (một) điện thoại di động Vivo Y33 màu xanh; số IMEI 1: 860993056956076; số IMEI 2: 8609930569560668.

(Theo Quyết định chuyển hồ sơ vụ án số 230/QĐ-VKS ngày 15/12/2024)

3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Đối với bị hại vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Sở Tư pháp TP.HCM; (1)
  • - TAND TP.HCM; (1)
  • - VKSND TP.HCM (1)
  • - VKSND Quận 10; (2)
  • - Công an Quận 10; (1)
  • - Chi cục THADS Quận 10; (1)
  • - Người tham gia tố tụng; (4)
  • - Lưu: VP, THAHS, Hồ sơ. (8)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Mai Hiếu Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2025/HS-ST ngày 06/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 34/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Đức H phạm tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger