| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 – VĨNH LONG Bản án số: 34/2025/HS-ST Ngày: 04/12/2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 – VĨNH LONG
- Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Kiên Thị Minh Hiếu.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Hạnh Dung
Ông Ngô Văn Chiến
- Thư ký phiên tòa: Bà Kim Thị Hồng Hạnh, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 13 - Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 - Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Kim Sum, Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 12 năm 2025, Tòa án nhân dân khu vực 13 - Vĩnh Long mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến tại 02 điểm cầu: Điểm cầu Trung tâm: Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 13 - Vĩnh Long và điểm cầu thành phần: Tòa án nhân dân khu vực 10 - Vĩnh Long vụ án hình sự thụ lý số: 26/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2025/QĐXXST-HS ngày 17/11/2025 đối với bị cáo:
Lâm Tân T, sinh ngày 15/9/1982; tại: tỉnh Vĩnh Long. Nơi cư trú: Ấp Đ, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh nay là ấp P, xã H, tỉnh Vĩnh Long. Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lâm Ngọc T1, sinh năm 1959 và bà Trần Thị T2, sinh năm 1960 (đã chết); anh, chị, em ruột: 01 người, sinh năm 1984; vợ: Lâm Ngọc H, sinh năm 1986, đã ly hôn; con: 01 người, sinh năm 2010. Tiền sự: Không có; Tiền án: 02, gồm: Ngày 20/01/2011, bị Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Bản án số 08/2011/HSST; Ngày 19/07/2014, bị Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh xử phạt 03 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Bản án số 52/2014/HSST. Về nhân thân: Ngày 18/02/2020 bị Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Bản án số 03/2020/HSST, đã xóa án tích; Ngày 28/10/2025, bị cáo bị Tòa án nhân dân khu vực 10 - Vĩnh Long xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Bản án số 56/2025/HS-ST ngày 28/10/2025; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: tạm giam (trong vụ án hình sự của Bản án số 56/2025/HSST trên) từ ngày 28/6/2025 cho đến nay, tại Trại tạm giam số 3, Công an tỉnh V. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa – điểm cầu thành phần: Tòa án nhân dân khu vực 10 – Vĩnh Long).
- Bị hại:
- Ông Trần Văn D, sinh năm 1975. Địa chỉ: ấp C, xã T, tỉnh Vĩnh Long. (có đơn xin vắng mặt)
- Ông Lưu Quang V, sinh năm 1983. Địa chỉ: ấp A, xã L, tỉnh Vĩnh Long. (có đơn xin vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 1977. Địa chỉ: Ấp T, xã P, tỉnh Vĩnh Long. (vắng không lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 08 giờ, ngày 12/4/2025, bị cáo Lâm Tân T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 67L2 – 7034 kéo theo một xe cẩm lô bằng sắt đến địa bàn tỉnh Trà Vinh (nay là tỉnh Vĩnh Long) để tìm tài sản trộm cắp. Khi đến Quốc lộ E thuộc địa phận ấp Đ, xã P, huyện T, tỉnh Trà Vinh (nay là ấp Đ, xã T, tỉnh Vĩnh Long), bị cáo Trạng phát hiện nhà của ông Trần Văn D, sinh ngày 25/08/1975, nơi thường trú: Ấp C, xã P, huyện T, tỉnh Trà Vinh (nay là ấp C, xã T, tỉnh Vĩnh Long) không người trông coi nên nảy sinh ý định trộm cắp. Sau đó, bị cáo T4 dừng xe lại, lén lút đi vào bên trong lấy 02 khung cửa rào bằng sắt, 01 cây sắt và 01 bên chân giàn giáo bằng sắt để lên xe cẩm lô rồi tiếp tục điều khiển xe mô tô về hướng huyện T (cũ) trên hương lộ B thì bị cáo Trạng phát hiện trong sân vườn, cạnh hàng rào của ông Lưu Quang V, sinh ngày 25/10/1983, nơi thường trú: Ấp C, xã A, huyện T, tỉnh Trà Vinh (nay là ấp A, xã L, tỉnh Vĩnh Long) có nhiều vỏ bình gas mà cửa rào không khoá, T4 quan sát xung quanh thấy vắng người nên đi vào lấy 01 vỏ bình gas nhãn hiệu HD-GAS, màu xám để lên xe cẩm lô tiếp tục điều khiển xe mô tô về hướng trung tâm xã A thì bị lực lượng Công an xã A (nay là xã L) phát hiện, tạm giữ tang vật và mời về trụ sở làm việc. Tại cơ quan Công an, T4 thừa nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản như đã nêu trên.
Căn cứ bản kết luận định giá tài sản số 21/KL-HĐĐGTS, ngày 06/06/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T, tỉnh Trà Vinh kết luận: 01 (một) vỏ bình gas, 01 (một) khung cửa rào bằng sắt ống tròn, 01 (một) khung cửa rào bằng sắt vuông, 01 (một) cây sắt ống, 01 (một) chân giàn giáo bằng sắt ống (các tài sản bị thiệt hại) có tổng giá trị tại thời điểm bị mất trộm là 956.000 đồng.
Về việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng:
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T (cũ) đã tạm giữ từ Lâm T gồm: 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 67L2 – 7034; 01 (một) xe cẩm lô tự chế bằng sắt, rỉ sét nhiều chỗ; 01 (một) vỏ bình gas bằng kim loại, thân hình dạng trụ tròn; 01 (một) khung cửa rào bằng sắt ống tròn; 01 (một) khung cửa rào bằng sắt (sắt vuông); 01 (một) cây sắt ống; 01 (một) chân giàn giáo bằng sắt ống tròn, đều đã qua sử dụng. Sau đó, đã trả lại các tài sản trên cho chủ sở hữu để quản lý. Riêng 01 xe cẩm lô của T4 thì tiếp tục tạm giữ tại kho vật chứng thuộc Phân trại tạm giam Cầu N – thuộc Trại tạm giam số 3, Công an tỉnh V đến ngày 28/11/2025 được chuyển đến Phòng Thi hành án dân sự khu vực 13, tỉnh Vĩnh Long cho đến nay.
Tại Cáo trạng số 06/CT-VKS-HS ngày 07/11/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 - Vĩnh Long đã truy tố bị cáo Lâm Tân T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lâm Tân T đã khai nhận hành vi lấy trộm tài sản của các bị hại đúng như nội dung Bản cáo trạng đã nêu.
Đối với bị hại ông Trần Văn D và ông Lưu Quang V đều có đơn xin vắng mặt và đều đã nhận lại tài sản bị mất trộm, đều không có yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T3 là người đang quản lý, sở hữu chiếc xe mô tô mà T sử dụng để trộm cắp tài sản đã nhận lại được xe mô tô, không yêu cầu bồi thường.
Qua tranh luận công khai, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 – Vĩnh Long thực hiện quyền công tố quyết định giữ nguyên cáo trạng đã truy tố, kết luận bị cáo Lâm Tân T phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Bị cáo Lâm Tân T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lâm Tân T đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bị cáo, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, tài sản bị thiệt hại đã thu hồi trả lại cho chủ sở hữu. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng cho bị cáo theo quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đề nghị tuyên bố bị cáo Lâm Tân T phạm tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị xử phạt bị cáo Lâm Tân T từ có thời hạn từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/6/2025. Áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) tổng hợp với hình phạt của Bản án 56/2025/HS-ST ngày 28/10/2025 của Toà án nhân dân khu vực 10 - Vĩnh Long, đề nghị buộc bị cáo Lâm Tân T phải chấp hành tổng hình phạt tù từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/6/2025.
Về vật chứng và xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021, 2025). Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) xe cẩm lô tự chế bằng sắt bề rộng 91cm, chiều dài 182cm, 02 bánh xe có niềng bằng sắt, lốp xe bằng nhựa, đã qua sử dụng, rỉ sét nhiều chỗ.
Bị cáo Lâm Tân T không trình bày lời bào chữa và không có ý kiến tranh luận với quan điểm luận tội của Viện kiểm sát, bị cáo thống nhất về tội danh, hình phạt mà Vị đại diện kiểm sát đề nghị.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo không trình bày lời nói sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T3 vắng mặt không lý do nhưng đã có lời khai trong quá trình điều tra nên việc vắng mặt của ông Nguyễn Văn T3 không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án; đối với các bị hại: ông Trần Văn D, ông Lưu Quang V đều có đơn xin vắng mặt. Căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021, 2025) Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Nguyễn Văn T3.
[2] Về tội danh: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng công khai tại phiên tòa, có đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 08 giờ ngày 12/4/2025, bị cáo Lâm Tân T điều khiển xe mô tô biển số 67L2-7034 kéo theo một xe cẩm lô tự chế đến khu vực ấp Đ, xã T, tỉnh Vĩnh Long. Bị cáo quan sát thấy nhà ông Trần Văn D không có người trông coi nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Bị cáo đã lén lút đi vào bên trong lấy trộm 02 khung cửa rào bằng sắt, 01 cây sắt và 01 chân giàn giáo bằng sắt để lên xe cẩm lô. Sau đó tiếp tục điều khiển xe đi đến khu vực sân vườn của ông Lưu Quang V, thấy có vỏ bình gas không khóa cửa rào, bị cáo tiếp tục lén lút lấy trộm 01 vỏ bình gas đem đi thì bị lực lượng Công an phát hiện, tạm giữ cùng tang vật.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lâm Tân T thừa nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản như nội dung cáo trạng đã truy tố. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các biên bản sự việc, bản ảnh, vật chứng thu giữ, bản tự khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của các bị hại và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án, phù hợp với kết luận định giá tài sản.
Theo Kết luận định giá số 21/KL-HĐĐGTS ngày 06/6/2025 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện T trước đây, toàn bộ số tài sản bị cáo đã lấy trộm gồm: 01 vỏ bình gas, 02 khung cửa rào bằng sắt, 01 cây sắt ống và 01 chân giàn giáo bằng sắt có tổng giá trị là 956.000 đồng. Như vậy, hành vi lấy trộm tài sản của bị cáo không đủ định lượng “từ 2.000.000 đồng trở lên” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tuy nhiên, bị cáo Lâm Tân T đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo các Bản án của Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh số 08/2011/HSST ngày 20/01/2011 và số 52/2014/HSST ngày 19/7/2014, đến nay đều chưa được xóa án tích, nhưng vẫn tiếp tục thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. Do đó, hành vi của bị cáo thuộc trường hợp “đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các Điều 168, 169, 170, 171, 172, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xét thấy, bị cáo là người thành niên, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc lén lút lấy trộm tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện nhằm mục đích tư lợi. Hành vi của bị cáo trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, gây mất trật tự an ninh tại địa phương.
Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lâm Tân T đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 – Vĩnh Long truy tố bị cáo theo tội danh nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai đối với bị cáo.
[3] Xét tính chất của vụ án thuộc tội phạm ít nghiêm trọng, hành vi của bị cáo Lâm Tân T là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo đã lén lút lấy trộm tài sản của người khác trong điều kiện chủ sở hữu không quản lý tài sản, thể hiện ý thức vụ lợi và cố ý thực hiện hành vi vi phạm. Hành vi này xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội tại địa phương, làm người dân hoang mang và mất niềm tin vào việc bảo vệ tài sản. Mặc dù giá trị tài sản bị chiếm đoạt không lớn, nhưng bị cáo đã có 02 tiền án về các tội xâm phạm sở hữu (trộm cắp tài sản và lừa đảo chiếm đoạt tài sản), chưa được xóa án tích nhưng vẫn tiếp tục phạm tội. Bị cáo đã từng bị xử lý hình sự, được giáo dục cải tạo nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, mà tiếp tục tái phạm. Điều này chứng tỏ ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo kém, khả năng tự cải tạo thấp nên cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội để có tác dụng giáo dục, phòng ngừa chung và cần áp dụng đối với bị cáo một hình phạt tù có thời hạn tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhằm giáo dục bị cáo, răn đe phòng ngừa chung và bảo đảm trật tự xã hội.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lâm Tân T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lâm Tân T đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bị cáo, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, tài sản bị thiệt hại đã thu hồi trả lại cho chủ sở hữu. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) cần áp dụng cho bị cáo. Do đó, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử đã cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự. Việc xem xét đầy đủ các tình tiết này nhằm bảo đảm hình phạt được áp dụng đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, đồng thời thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước đối với người phạm tội có thái độ thành khẩn, ăn năn hối cải.
Bị cáo Lâm Tân T đã bị Tòa án nhân dân khu vực 10 - Vĩnh Long xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Bản án số 56/2025/HS-ST ngày 28/10/2025, đã có hiệu lực pháp luật. Nay bị cáo tiếp tục bị xét xử về hành vi phạm tội mới nên Hội đồng xét xử áp dụng các quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung theo quy định của pháp luật.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại gồm ông Trần Văn D và ông Lưu Quang V đã nhận lại tài sản bị mất trộm, đều không có yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T3 là người đang quản lý, sở hữu chiếc xe mô tô mà T sử dụng để trộm cắp tài sản đã nhận lại được xe mô tô và không yêu cầu T bồi thường trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[6] Về vật chứng và xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) xe cẩm lô tự chế bằng sắt bề rộng 91cm, chiều dài 182cm, 02 bánh xe có niềng bằng sắt, lốp xe bằng nhựa, đã qua sử dụng, rỉ sét nhiều chỗ. Đây là phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021, 2025), xét thấy cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
[7] Về án phí: Hội đồng xét xử áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021, 2025); Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Lâm Tân T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
[8] Đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 - Vĩnh Long là phù hợp với quy định pháp luật cũng như nhận định trên của Hội đồng xét xử nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[9] Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thẩm tra các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, thấy rằng các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đều đúng quy định pháp luật, những người tham gia tố tụng không có khiếu nại hoặc có ý kiến nào khác phản đối các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng nên các quyết định và hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lâm Tân T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lâm Tân T 01 (Một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/6/2025.
Căn cứ Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) tổng hợp hình phạt 01 (Một) năm tù của Bản án này với hình phạt 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù của Bản án số 56/2025/HS-ST ngày 28/10/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Vĩnh Long, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/6/2025.
Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đều không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021, 2025). Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) xe cẩm lô tự chế bằng sắt bề rộng 91cm, chiều dài 182cm, 02 bánh xe có niềng bằng sắt, lốp xe bằng nhựa, đã qua sử dụng, rỉ sét nhiều chỗ.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021, 2025); Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lâm Tân T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
* Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Kiên Thị Minh Hiếu |
Bản án số 34/2025/HS-ST ngày 04/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 13 - Vĩnh Long về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 34/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 13 - Vĩnh Long
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bị cáo phạm tội Trộm cắp tài sản - xử phạt tù và tổng hợp hình phạt với Bản án trước
