|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - QUẢNG NGÃI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 34/2025/HS-ST Ngày: 03-12-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – QUẢNG NGÃI
- - Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hường
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Quang Ngọc và bà Chế Thị Mai.
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Trần Quỳnh Nhi – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 7 – Quảng Ngãi.
- - Đại diện viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Tuấn - Kiểm sát viên.
Trong ngày 03 tháng 12 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 – Quảng Ngãi, xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 40/2025/TLST-HS, ngày 11/11/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2025/QĐXXST-HS ngày 20/11/2025 đối với bị cáo:
Bùi Văn X (Tên gọi khác: Không); Sinh ngày 10 tháng 12 năm 1993 tại Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn T, xã N, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; trình độ văn hóa: Lớp 06/12; Nghề nghiệp: Làm nông; Con ông: Bùi Văn N(Đã chết) và bà Phạm Thị T, sinh năm: 1959; Bị cáo có vợ là Bùi Thị Huyền T1, sinh năm 1996 (Đã ly hôn) và có 02 người con sinh năm 2014 và 2017.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 19/01/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam (nay là tỉnh Ninh Bình) xử tù có thời hạn mức án 09 (chín) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Ngày 01/8/2022, Bùi Văn X chấp hành xong án phạt tù và trở về địa phương sinh sống (Đã chấp hành xong và đã được xóa án tích).
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam tại Trại tạm giam số B tỉnh Quảng Ngãi kể từ ngày 02/6/2025 đến nay. Bị cáo có mặt.
- - Bị hại: Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1973; Địa chỉ: Số B T, phường Đ, tỉnh Quảng Ngãi. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Chị Nguyễn Thị Ánh T2, sinh năm 2000; Địa chỉ: Tổ E, khu F, phường C, tỉnh Quảng Ninh. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Chị Bùi Thị H, sinh năm 1997. Địa chỉ: Thôn H, xã K, tỉnh Thanh Hóa. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng đầu tháng 5 năm 2025, Bùi Văn X đã sử dụng mạng xã hội Facebook, lập tài khoản có tên “Vật Tư Xây D” và “Sắt Thép Nhập T3”. Sau đó, X lên mạng tìm các hình ảnh sắt, thép, cốt pha, giàn giáo đã qua sử dụng tải về và đăng lên hai trang facebook trên với nội dung hiện đang bán các loại hàng này giá rẻ, kèm theo số điện thoại 0886.576.xxx của mình. Tiếp đó, X đăng tin lên các hội nhóm chuyên về vật liệu xây dựng trên mạng xã hội Facebook để nhiều người biết đến. Khi có người cần mua thì sẽ liên hệ với X thông qua zalo tên “Lđại Lý Đồ C1” được đăng ký bằng số điện thoại 0886.576.xxx. Khi có khách hàng cần mua loại gì Xuyên sẽ đưa ra giá rẻ hơn thị trường để người mua đặt hàng rồi yêu cầu họ chuyển tiền đặt cọc hoặc toàn bộ tiền hàng và chiếm đoạt số tiền trên.
Ngoài ra, Bùi Văn X có tham gia chơi trên ứng dụng “Super Meet” và biết một người tên Nguyễn Thị Ánh T2 (Sinh năm 2000, trú tại Tổ E, Khu F, Phường C, tỉnh Quảng Ninh - là người chuyên phát trực tiếp trên ứng dụng, sử dụng tài khoản zalo tên “Tuyết Bé”) có thể đổi được tiền Việt Nam đồng thành tiền “xu” (tiền xu sử dụng để tặng quà cho người phát trực tiếp hoặc để chơi các trò chơi trên ứng dụng). Sau đó, trong quá trình tham gia trên ứng dụng, X đã nhờ T2 đổi tiền Việt Nam đồng thành tiền “xu” nhiều lần, lúc này X chỉ cần chuyển số tiền Việt Nam đồng cần đổi vào tài khoản ngân hàng của T2 là 1290642986 mang tên Nguyễn Thị Ánh T2 mở tại ngân hàng B, sau đó chụp màn hình giao dịch chuyển tiền thành công, nhắn tin qua zalo cho T2 kèm theo ID của tài khoản trên ứng dụng “Super Meet” thì T2 sẽ liên hệ đổi thành tiền “xu” và chuyển vào tài khoản của X với số tiền “xu” tương ứng (giá trị quy đổi 1.000.000 VND = 250.000 xu hoặc 260.000 xu nếu người chơi đổi nhiều). Đồng thời, X nói với T2 là X bán hàng, sẽ có khách hàng chuyển tiền hàng đến và sẽ chuyển thẳng đến tài khoản của T2 để đổi tiền “xu” thì T2 đồng ý.
Vào ngày 14/5/2025, bà Nguyễn Thị C sử dụng tài khoản zalo tên “Châu Nguyễn” được đăng ký bằng số điện thoại 0905.238.xxx nhắn tin đến cho X qua zalo tên “Lđại Lý Đồ C1” được đăng ký bằng số điện thoại 0886.576.xxx và hỏi giá các mặt hàng sắt, thép X đăng bán trên facebook. Sau khi trao đổi, bà C đã đặt các loại hàng: 10 cây sắt chữ I 150, sắt V5 1 tấn, sắt V6 1 tấn, ống phi 90 1 tấn (gồm hai loại 1ly2 và 1 ly4), lưới B40 10 cuộn đủ loại với tổng số tiền là 70.500.000 đồng (bảy mươi triệu năm trăm nghìn đồng). Sau đó, X yêu cầu bà C chuyển số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) để đặt cọc và đưa số tài khoản 1290642986 mang tên Nguyễn Thị Ánh T2 mở tại ngân hàng B để cho bà C chuyển tiền vào. Vào lúc 14 giờ 42 phút ngày 14/5/2025, bà C đã chuyển số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) và chụp màn hình điện thoại có nội dung giao dịch thành công rồi gửi tin nhắn đến cho X. Lúc này, X chuyển tiếp hình ảnh chuyển tiền gửi tin nhắn cho Nguyễn Thị Ánh T2 kèm theo ID số “1353699” của tài khoản trên ứng dụng “Super Meet” với mục đích đổi số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) thành tiền “xu” cho X.
Sau khi bà C chuyển tiền, X tiếp tục nói bà C là không có xe, phải thuê xe ngoài để vận chuyển đồng thời nói không có người để đi theo xe vào nhận tiền mặt nên yêu cầu bà C chuyển hết số tiền còn lại cho mình. Sau đó, bà C chuyển cho X hai lần tiền với số tiền lần lượt là 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng) vào lúc 17 giờ 29 phút và 10.500.000 đồng (mười triệu năm trăm nghìn đồng) vào lúc 21 giờ 24 phút vào tài khoản 1290642986 mang tên Nguyễn Thị Ánh T2 mở tại ngân hàng B, bà C chụp màn hình điện thoại có nội dung giao dịch thành công rồi gửi tin nhắn đến cho X. Sau đó, X chuyển tiếp hai hình ảnh chuyển tiền gửi tin nhắn cho Nguyễn Thị Ánh T2 kèm theo ID số “1354669” của tài khoản trên ứng dụng “Super Meet” với mục đích đổi số tiền 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng) và 10.500.000 đồng (mười triệu năm trăm nghìn đồng) thành tiền “xu” cho X. Sau khi Nguyễn Thị Ánh T2 nhận được các khoản tiền do bà C chuyển đến, T2 đã vào ứng dụng S để chuyển số “xu” tương ứng với từng khoản tiền Việt Nam đồng của bà C đến hai tài khoản Supermeet của X là “1353699” và "1354669".
Sau khi bà C chuyển tiền xong, X chặn liên lạc với bà C, đồng thời thu hồi hết tin nhắn của mình đã nhắn với bà C trên Z và chiếm đoạt của bà C tổng số tiền là 70.500.000 đồng (Bảy mươi triệu năm trăm nghìn đồng).
Tại bản Kết luận số 228/KL-KTHS ngày 16/7/2025 của Phòng K - Công an tỉnh Q, kết luận:
- Dữ liệu trích xuất trong 01 (một) điện thoại di dộng dạng cảm ứng nhãn hiệu OPPO A78 5G, màu đen, đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong, số IMEI1: 867448062913432, số IMEI2: 867448062913424, bên trong thân máy chứa 01 thẻ sim Vinaphone, số seri: 89840 20001 17225 19665, số thuê bao: 0886 576 929; 01 thẻ sim Viettel, số seri: 8984 04800 09452 45413, số thuê bao: 0981 412 060:
- + Có cài đặt ứng dụng Facebook, tên tài khoản đăng nhập có tên “Vật Tư Xây Dựng”, UID: 61559638376482.
- + Có cài đặt ứng dụng Supper meet, không tìm thấy tài khoản đăng nhập trên ứng dụng.
- + Có cài đặt ứng dụng Zalo, tài khoản đăng nhập có tên “Lđại Lý Đồ C1”, số điện thoại 0886.576.xxx. Dữ liệu tin nhắn trong ứng dụng Zalo với tài khoản có tên “Châu Nguyễn”, có: 22 hình ảnh có nội dung liên quan; với tài khoản có tên “Tuyết Bé”, có: 22 hình ảnh có nội dung liên quan. (Phụ lục kèm theo)
- + Dữ liệu hình ảnh có nội dung liên quan đến vật liệu xây dựng, có: 117 hình ảnh. (Phụ lục kèm theo).
Kết quả sao kê tài khoản ngân hàng của bà Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị Ánh T2 đều có các số tiền tương ứng với các giao dịch như kết quả điều tra nêu trên.
Vật chứng vụ án thu giữ gồm: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A78 5G, màu đen, bên trong có 01 thẻ sim Vinaphone, số thuê bao 0886.576.xxx và 01 thẻ sim Viettel, số thuê bao 0981.412.xxx của Bùi Văn X được chuyển đến phòng 7 – Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi để bảo quản theo quy định.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường toàn bộ số tiền bị cáo đã chiếm đoạt cho bị hại bà Nguyễn Thị C, bà C không yêu cầu gì thêm.
*Tại bản cáo trạng số 10/CT- VKSKV7 ngày 10/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Quảng Ngãi đã truy tố bị cáo Bùi Văn X về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Quảng Ngãi vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố như bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Bùi Văn X phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Bùi Văn X từ 24 tháng đến 28 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu, sung quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A78 5G, màu đen của Bùi Văn X và tịch thu tiêu hủy 01 thẻ sim Vinaphone, số thuê bao 0886.576.xxx; trả lại cho bị cáo 01 thẻ sim Viettel, số thuê bao 0981.412.xxx.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo ân hận về hành vi phạm tội của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an tỉnh Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 – Quảng Ngãi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
[2]. Về hành vi truy tố của bị cáo:
Trên cơ sở lời khai của bị cáo, những người tham gia tố tụng khác và chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã xác định:
Vào khoảng đầu tháng 5 năm 2025, Bùi Văn X làm nghề lao động tự do và làm nông tại nhà, không buôn bán, kinh doanh các mặt hàng sắt, thép, nhưng để có tiền tiêu xài X đã sử dụng mạng xã hội Facebook, lập tài khoản có tên “Vật Tư Xây D” và “Sắt Thép Nhập T3”. Sau đó, X lên mạng tìm các hình ảnh sắt, thép, cốt pha, giàn giáo đã qua sử dụng tải về và đăng lên hai trang facebook trên với nội dung hiện đang bán các loại hàng này giá rẻ, kèm theo số điện thoại 0886.576.xxx của mình. Tiếp đó, X đăng tin lên các hội nhóm chuyên về vật liệu xây dựng trên mạng xã hội Facebook để nhiều người biết đến. Khi có người cần mua thì sẽ liên hệ với X thông qua zalo tên “Lđại Lý Đồ C1” được đăng ký bằng số điện thoại 0886.576.xxx. Khi có khách hàng cần mua loại gì Xuyên sẽ đưa ra giá rẻ hơn thị trường để người mua đặt hàng rồi yêu cầu họ chuyển tiền đặt cọc hoặc toàn bộ tiền hàng, X sẽ chiếm đoạt số tiền đã nhận. Đến ngày 14/5/2025, với thủ đoạn trên, Bùi Văn X đã tiếp cận bà Nguyễn Thị C qua ứng dụng Zalo của mình để bà C tin tưởng đặt mua hàng với tổng số tiền là 70.500.000 đồng. Sau khi bà C đã chuyển toàn bộ số tiền trên theo yêu cầu của X, X chặn liên lạc với bà C, đồng thời thu hồi hết tin nhắn của X đã nhắn với bà C trên Z và chiếm đoạt của bà C tổng số tiền là 70.500.000 đồng.
Hành vi trên của Bùi Văn X đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 – Quảng Ngãi đã truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội và có căn cứ pháp luật.
[3]. Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ; gây mất an ninh, trật tự tại địa phương, gây dư luận xấu trong xã hội. Bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội mình đã gây ra.
[4]. Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Bùi Văn X không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại bà Nguyễn Thị C toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt, bà Nguyễn Thị C xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Ngày 19/01/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam (nay là tỉnh Ninh Bình) xử 09 (chín) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Ngày 01/8/2022, Bùi Văn X chấp hành xong án phạt tù và trở về địa phương sinh sống (Đã chấp hành xong và đã được xóa án tích).
Sau khi xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng trách, giảm nhẹ nhiệm hình sự của bị cáo. Hội đồng xét xử thấy quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thực sự thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt và bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên cũng xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo khi lượng hình và cũng cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội, biết tuân thủ pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo Bùi Văn X nghề nghiệp không ổn định và không có tài sản, nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
[5]. Về các vấn đề khác: Đối với Nguyễn Thị Ánh T2 sử dụng số tài khoản 1290642986 mang tên Nguyễn Thị Ánh T2 mở tại ngân hàng B nhận tổng số tiền 70.500.000 đồng (Bảy mươi triệu năm trăm nghìn đồng) của bà Nguyễn Thị C chuyển đến. Tuy nhiên, Nguyễn Thị Ánh T2 không biết nguồn gốc số tiền trên do đâu mà có, X không nói cho T2 biết việc X có hành vi lừa đảo chiếm đoạt số tiền trên của bà C. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Q không tiến hành xử lý đối với Nguyễn Thị Ánh T2 đồng phạm với Bùi Văn X về hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bà Nguyễn Thị C là có căn cứ.
- Đối với ứng dụng “Supper Meet”, Cơ quan điều tra đã có văn bản yêu cầu cơ quan hữu quan cung cấp thông tin. Cục phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử cung cấp: Ứng dụng này được vận hành bởi công ty nước ngoài, không có hiện diện pháp lý tại Việt Nam, thông tin người dùng đều được mã hóa và bảo mật nên không có sự quản lý của Việt Nam. Do đó, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, xử lý nếu có dấu hiệu của tội phạm đối với việc sử dụng ứng dụng trên.
[6].Về xử lý vật chứng vụ án:
Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A78 5G, màu đen của Bùi Văn X bên trong có gắn sim Vinaphone, số thuê bao 0886.576.xxx và thẻ sim Viettel, số thuê bao 0981.412.xxx. Chiếc điện thoại là công cụ phạm tội, nên tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước; đối với 01 thẻ sim Vinaphone, số thuê bao 0886.576.xxx liên quan đến việc phạm tội không có giá trị cần tịch thu, tiêu hủy; 01 thẻ sim Viettel, số thuê bao 0981.412.xxx không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả cho bị cáo là phù hợp.
[7]. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tác động gia đình là chị Bùi Thị H (em gái của bị cáo) bồi thường toàn bộ số tiền bị cáo đã chiếm đoạt là 70.500.000 đồng (Bảy mươi triệu năm trăm nghìn đồng) cho bị hại bà Nguyễn Thị C, bà C không yêu cầu gì thêm, nên không đề cập.
Chị Bùi Thị H không yêu cầu bị cáo Bùi Văn X trả lại số tiền chị H đã bồi thường thay cho bị cáo, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Bị cáo Bùi Văn X phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn X (tên gọi khác: Không) phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự.
- Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, Điều 4 Luật số 86/2025/QH15. Xử phạt bị cáo Bùi Văn X 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm ngày 02/6/2025.
-
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, sửa đổi, bổ sung năm 2025.
- -Tịch thu, nộp vào ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A78 5G, màu đen.
- - Tịch thu, tiêu hủy 01 thẻ sim Vinaphone, số thuê bao 0886.576.xxx.
- - Trả lại cho bị cáo Bùi Văn X 01 thẻ sim Viettel, số thuê bao 0981.412.xxx.
Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 18 tháng 11 năm 2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q với Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 7- Quảng Ngãi.
- Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 31/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo Bùi Văn X phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và 333 Bộ luật tố tụng hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 03/12/2025) bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo trình tự phúc thẩm. Đối với người vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hường |
Bản án số 34/2025/HS-ST ngày 03/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – QUẢNG NGÃI về hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 34/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – QUẢNG NGÃI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Văn Xuyên phạm tội: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
