Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 34/2025/HS-ST

Ngày: 02 - 4 - 2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3, TP. HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Dương

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Lê Thị Xuân Mai
  2. Bà Đặng Thị Ngọc Hằng

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Quốc Vương – Kiểm sát viên.

Ngày 02/4/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 30/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2025/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Phạm NH, sinh ngày 08 tháng 5 năm 1993 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú: số 433/3 Nguyễn Văn Luông, Phường 12, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú hiện tại: không có nơi cư trú cố định; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn Dưỡng và bà Nguyễn Thị Tuyết; tiền án: không, tiền sự: không; có vợ là Trần AT sinh năm 1996, hai con sinh năm 2018 và 2019; bị bắt, tạm giam từ ngày 08/11/2024 (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Bà Trần AT, sinh năm 1996, nơi cư trú: số 357/76/31 H Giang, Phường 11, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt);
  2. Ông Nguyễn Thái PT, sinh năm 1994, nơi cư trú: số 38 Đường 22, Phường 11, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 02/4/2022, tại trước số nhà 143 đường Nguyễn Đình Chiểu, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, Ngô Quốc Tuấn và Lê Ngọc Tú đã cùng nhau trộm cắp chiếc xe gắn máy hiệu Honda Airblade, biển số 59K2-523.01 của anh Nguyễn Thái PT. Ngay sau đó, Lê Ngọc Tú đã gọi điện thoại cho Phạm NH đề nghị bán xe vừa trộm cắp được. H đồng ý và hai bên hẹn gặp nhau tại trước số nhà 156A Nguyễn Trãi, Phường 3, Quận 5 để trao đổi. Tại đây, H thấy được chiếc xe không có giấy tờ, không rõ nguồn gốc, không thể lập hợp đồng mua bán có công chứng, chứng thực nên biết rằng chiếc xe này là do phạm tội mà có. Tuy nhiên, do xe máy còn mới, giá rẻ hơn so với thị trường nên H vẫn mua với giá 12.500.000 đồng để sử dụng. H đưa tiền mặt cho Tuấn, Tú và nhận xe, hai bên không lập chứng từ mua bán.

Ngày 03/4/2022, Phạm NH có thông tin cơ quan công an đang tìm kiếm nên đã đăng bán chiếc xe máy Honda Airblade, biển số 59K2-523.01 trong nhóm facebook “Hội những người mua bán xe không giấy NOOP HCM”. Sau đó, H điều khiển xe đến trước số nhà 363 Tỉnh lộ 10, phường An Lạc A, quận Bình Tân bán cho một người thanh niên không rõ lai lịch với giá 11.000.000 đồng rồi bỏ trốn. Số tiền bán xe, H tiêu xài cá nhân hết.

Ngày 31/5/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 3 ra quyết định truy tìm đối với Phạm NH, đến ngày 05/11/2024 thì tìm được. Tại Cơ quan điều tra, Phạm NH đã khai nhận toàn bộ hành vi nêu trên. Lời khai của H phù hợp với lời khai của Ngô Quốc Tuấn, Lê Ngọc Tú và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Đối với hành vi trộm cắp tài sản của Ngô Quốc Tuấn và Lê Ngọc Tú đã được Tòa án nhân dân Quận 3 xét xử và ban hành Bản án số: 73/2022/HSST ngày 27/10/2022. Bản án có hiệu lực pháp luật.

Bản Kết luận định giá tài sản số 33/KL-HĐĐGTS ngày 14/4/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận 3 kết luận: 01 xe gắn máy nhãn hiệu Honda, số loại Airblade, màu xanh – xám – đen, dung tích 149.32, số máy: KF41E0010642, số khung: 4104LZ451347, biển số: 59K2-523.01 tại thời điểm tháng 4 năm 2022 trị giá 44.267.000 đồng.

Tại Cáo trạng số: 33/CT-VKS-Q3 ngày 20/02/2025, Viện Kiểm sát nhân dân Quận 3 đã truy tố Phạm NH về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có theo quy định tại khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

  • Bị cáo Phạm NH thừa nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện như khai nhận tại cơ quan điều tra, xác định Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố đúng người, đúng tội. Bị cáo nhận thức về hành vi của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 phát biểu:

Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo như nội dung Cáo trạng số 33/CT-VKS-Q3 ngày 20/02/2025, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Xử phạt bị cáo Phạm NH từ 12 tháng đến 15 tháng tù;
  • Về trách nhiệm dân sự: Đã được xử lý tại Bản án số 73/2022/HSST ngày 27/10/2022 nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét;
  • Về xử lý vật chứng:

Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền 11.000.000 đồng do bà Nguyễn AT (vợ bị cáo H) tự nguyện giao nộp cho cơ quan điều tra để xử lý trong vụ án.

Trả lại cho bị cáo H 01 điện thoại di động hiệu Iphone X màu trắng thu giữ trong quá trình điều tra.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên và Viện kiểm sát, kiểm sát viên trong giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố được thực hiện theo đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục luật định. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các bị cáo, bị hại và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Từ những cơ sở, căn cứ và nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử đánh giá các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Đối với đối tượng mua chiếc xe gắn máy hiệu Honda Airblade, biển số 59K2-523.01 từ Phạm NH, do chưa xác định được thông tin nên đề nghị tiếp tục điều tra, xử lý sau.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa đồng nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, với vật chứng đã thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:

Vào khoảng trưa ngày 02/4/2022, sau khi trộm cắp được chiếc xe gắn máy hiệu Honda Airblade, biển số 59K2-523.01 của anh Nguyễn Thái PT, Ngô Quốc Tuấn và Lê Ngọc Tú đã gọi điện thoại cho Phạm NH đề nghị bán xe. Sau đó, tại trước số nhà 156A Nguyễn Trãi, Phường 3, Quận 5, Phạm NH đã mua chiếc xe này từ Tuấn và Tú với giá 12.500.000 đồng. Ngày 03/4/2022, tại trước số nhà 363 Tỉnh lộ 10, phường An Lạc A, quận Bình Tân, H bán lại chiếc xe cho người không rõ lai lịch với giá 11.000.000 đồng và tiêu xài hết. Mặc dù nhận thức và ý thức được chiếc xe do Tuấn, Tú phạm tội mà có nhưng vì ham giá rẻ nên H vẫn cố tình mua về để sử dụng.

Hội đồng xét xử kết luận hành vi của Phạm NH đã phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Cáo trạng số 33/CT-VKS-Q3 ngày 20/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 truy tố bị cáo đúng người, đúng tội.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân, đồng thời tác động xấu đến trật tự, an toàn xã hội.

[4] Bị cáo Phạm NH trong quá trình thực hiện tội phạm đã ý thức rất rõ xe máy 59K2-523.01 do người khác phạm tội mà có nhưng do động cơ tham lam, vụ lợi nên cố tình tiêu thụ. Do đó, lỗi của bị cáo được xác định là lỗi cố ý trực tiếp. Sau khi mua được tài sản và có thông tin cơ quan công an đang truy tìm, bị cáo H đã bán chiếc xe và bỏ trốn. Hành vi này của bị cáo thể hiện ý thức che giấu và thực hiện tội phạm đến cùng, coi thường pháp luật. Bản thân bị cáo đã từng phải chấp hành hình phạt tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 65/2014/HSST ngày 24/6/2014 của Tòa án nhân dân Quận 6, nhưng không thay đổi, sửa sai mà tiếp tục phạm pháp. Do đó, khi quyết định hình phạt đối với bị cáo cần phải thật nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội.

Tuy nhiên cũng xét, bị cáo H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, trong quá trình điều tra, xét xử đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại điểm điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

[5] Về việc áp dụng hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 323 của Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân và hoàn cảnh kinh tế, Hội đồng xét xử miễn hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Nghĩa vụ bồi thường cho anh Nguyễn Thái PT là chủ sở hữu xe máy 59K2-523.01 đã được giải quyết bằng Bản án số 73/2022/HSST ngày 27/10/2022 của Tòa án nhân dân Quận 3 đã có hiệu lực pháp luật. Trong vụ án này, không có yêu cầu giải quyết về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Đối với số tiền 11.000.000 đồng do bà Nguyễn AT (vợ bị cáo H) tự nguyện giao nộp cho cơ quan điều tra. Hội đồng xét xử xác định số tiền này có được là do bị cáo H bán tài sản phạm tội mà có. Do đó, căn cứ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, số tiền này phải được tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

[8] Về xử lý vật chứng:

  • 01 điện thoại di động hiệu Iphone X màu trắng thu giữ của Phạm NH: Quá trình thẩm tra tại phiên tòa và tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện chiếc điện thoại này là tài sản cá nhân của Phạm NH, không phải là công cụ, phương tiện phạm tội hoặc do phạm tội mà có. Do đó, căn cứ quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tài sản này được trả lại cho bị cáo.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 và khoản 5 Điều 323, điểm điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Căn cứ vào các điều 106, 135, 136, 260, 292, 331, 333, 336, 337 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 21 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ vào Luật Thi hành án dân sự;

Căn cứ vào Luật Thi hành án hình sự,

  1. Tuyên bố bị cáo Phạm NH phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
  2. Xử phạt bị cáo Phạm NH 01 (một) năm 01 (một) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08 tháng 11 năm 2024.
  3. Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền bị cáo Phạm NH bán tài sản do phạm tội mà có là 11.000.000 đồng (Mười một triệu đồng). Số tiền này đã được chị Nguyễn AT (vợ bị cáo H) tự nguyện giao nộp cho cơ quan điều tra và được lưu giữ tại Kho bạc Nhà nước Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh (tài khoản ghi có số: 39490906161200000) theo Giấy nộp tiền số: 11213470 ngày 11/02/2025.
  4. Xử lý vật chứng:
    • Trả lại cho bị cáo Phạm NH 01 điện thoại di động Iphone X màu trắng (vật chứng được ghi trong Lệnh nhập kho vật chứng số: 155/LNK-ĐCSHS ngày 17/02/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 3; Quyết định chuyển vật chứng số: 31/QĐ-VKS-HS ngày 20/02/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân Quận 3 và Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 28/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 3).
  5. Về án phí:

    Bị cáo Phạm NH phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  1. Về quyền kháng cáo:

    Bị cáo Phạm NH và bà Nguyễn AT có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Nguyễn Thái PT được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. HCM;
  • - VKSND Quận 3;
  • - CCTHADS Quận 3;
  • - Công an TP. HCM;
  • - Sở Tư pháp TP. HCM;
  • - Các bị cáo;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Duy Dương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2025/HS-ST ngày 02/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3, TP. HỒ CHÍ MINH về tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

  • Số bản án: 34/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3, TP. HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm tội
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger