Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2025/HS-PT

Ngày 25/6/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Kiên.

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hương và ông Phạm Trung Thực.

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thủy Quyên - Thẩm tra viên Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Bà Phùng Thị Lan - Kiểm sát viên.

Ngày 25/6/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 43/2025/HSPT ngày 07 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo Đoàn Viết D, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 35/2025/HSST ngày 25/3/2025 của Toà án nhân dân huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên.

- Bị cáo có kháng cáo: Đoàn Viết D, sinh ngày 28/11/2006; tên gọi khác: Không có; giới tính: Nam; nơi cư trú: Thôn Q, xã V, huyện Y, tỉnh Hưng Yên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hoá: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Đoàn K và bà Dương Thị N; vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không. Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt).

Trong vụ án còn có 05 bị cáo và 07 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối ngày 13/11/2024, Đoàn Viết D ở thôn Q, xã M, huyện Y đi chơi cùng bạn gái qua khu vực Trung tâm thương mại xã D, huyện K thì gặp Nguyễn Văn L ở thôn N, xã T, huyện K; Trần Minh H ở thôn K, xã T, huyện K và Đặng Văn T ở thôn N, xã Đ, huyện K đi chơi trên một xe mô tô thì xảy ra va chạm mâu thuẫn với nhau. T và L xuống xe dùng tay tát vào mặt của D sau đó bỏ đi. Khoảng 20 giờ 30 phút tối ngày 14/11/2024, D nhắn tin qua Facebook cho H và T hẹn gặp nhau ở vòng xuyến huyện K để nói chuyện giải quyết mâu thuẫn thì H điều khiển xe mô tô Honda Vison biển số 89E1-817.98 (Hiếu mượn của chị gái là Trần Hồng H1) chở T và L đi vào chỗ hẹn nhưng D không đến. Sau đó, D lại hẹn nhóm của T ra quán nét 86 (ở cổng ký túc xá Trường Đ do D đang quản lý quán) thuộc thôn Y, xã D, huyện K để nói chuyện giải quyết mâu thuẫn. Theo lời hẹn, H điều khiển xe mô tô chở T và L tiếp tục đi ra quán N1 để gặp D. Khi đến cửa quán, D đứng trong quán cầm một dao chuôi gỗ màu đen dài khoảng 25cm (loại dao bài) ném về phía nhóm của T nhưng không trúng. T và L định xông vào quán thì D ra đóng, giữ cửa. Phía ngoài T, L và H cũng kéo cửa ra nhưng không được. D cầm 01 gậy bóng chày bằng kim loại trong quán nét vụt về phía đầu của L nhưng không bị thương tích. Hai bên giằng co khoảng 01-02 phút, do không mở cửa vào được bên trong nên T, L và H đi về khu vực xã Đ, huyện K. Khi cả ba đi về đến gần ủy ban nhân dân xã Đ thì gặp Dương Văn T1 sinh năm 2007 ở thôn T, xã T, huyện K điều khiển xe mô tô Honda Wave không rõ biển số (do T1 mượn của bạn không rõ tên tuổi địa chỉ) chở Nguyễn Văn T2 sinh năm 2004 ở thôn D, xã Đ, huyện K. Khi này, nhóm của T kể lại cho T1 và T2 nghe sự việc trên. T2 bảo tất cả đi vào Trung tâm thương mại D1 để T2 gọi D ra nói chuyện giảng hòa (Do T2 cũng quen biết D) thì tất cả đồng ý rồi cùng đi vào Trung tâm thương mại D1.

Khi đến sân Trung tâm thương mại D1 thì T, H và L ngồi chờ ở sân, T1 điều khiển xe chở T2 (T2 cầm theo 01 con dao dài khoảng 30cm) đi đến quán nét 86 gọi D ra và bảo D xuống sân Trung tâm thương mại D1 để nói chuyện. Lúc này ở quán còn có: Dương Công T3 ở thôn Đ, thị trấn Y, huyện Y; Lê Tuấn A ở thôn Đ, xã Đ, huyện Y; Đỗ Xuân Tuấn A1 ở thôn Y, xã D, huyện K; Nguyễn Danh K1 ở thôn A, xã Đ, huyện K; Phan Nhất L1 ở thôn Y, xã D, huyện K; Bùi Đức P có hộ khẩu thường trú: Khu N, tập thể D, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội; Đỗ Đình K2 sinh năm 2006 ở thôn A, xã Đ, huyện K; Lê Đình V ở thôn B, xã T, huyện K.

T1 chở T2 đi xuống Trung tâm thương mại D1 trước, D điều khiển mô tô nhãn hiệu Wave không rõ biển số (D mượn của một người khách trong quán) chở Dương Công T3 đi theo phía sau. Sau đó, những người trong quán nét cũng đi theo, gồm: Đỗ Đình K2 điều khiển xe Winner biển số 89E1-86385 (xe của K2) chở Bùi Đức P (P cầm theo 01 dao bài dài khoảng 25cm, chuôi gỗ màu vàng lấy trong quán nét giấu trong người); Đỗ Xuân Tuấn A1 điều khiển xe không rõ đặc điểm (mượn của khách trong quán) chở Lê Tuấn A và Lê Đình V; Nguyễn Danh K1 điều khiển Honda Wave biển số 89E1-917.79 của mình chở Phan Nhất L1 (L1 cầm 01 gậy bóng chày dài khoảng 01m).

Khoảng hơn 22 giờ cùng ngày khi đến sân Trung tâm thương mại D1, T1, T2, T3 và D đến trước gặp T, L1 và H đứng ở sân để nói chuyện. Khi vừa gặp nhau, đang nói chuyện giải quyết mâu thuẫn thì D chửi T: “Đ.mẹ mày xin lỗi thế nào đấy”; T cũng chửi lại: “Đ.mẹ mày tao xin lỗi thế còn thế nào nữa” đồng thời lao vào dùng tay tát vào mặt của D 01 phát. D chửi lại: “Đ.mẹ mày” đuổi đấm T một phát vào vùng lưng rồi cả hai đuổi đánh nhau, chửi nhau vòng quanh những chiếc xe mô tô của các đối tượng dựng ở sân Trung tâm thương mại D1. Cả hai vừa đuổi nhau vừa chửi: “Đ.mẹ mày”. Thấy đánh nhau, T3 lao vào dùng tay đấm Nguyễn Văn L 02- 03 phát vào mặt, L cúi xuống ôm đầu không có hành động lời nói gì, H cũng đứng im không có hành động lời nói gì. Thấy vậy, T2 cầm dao giơ lên, đứng vào giữa hai bên chửi: “Đ.mẹ mày D ơi, anh gọi mày ra nói chuyện mà chúng mày đánh nhau, thế thì thôi nhé” và: “Đ.mẹ thằng nào thích đánh nhau thì vào đây”. Ngay lúc đó, P cầm dao chạy đến đâm một phát trúng bả vai trái của Nguyễn Văn L và chửi: “Đ.mẹ mày” rồi vứt dao xuống sân Trung tâm thương mại xã D1. Thấy L bị chảy máu, T2 tiếp tục cầm dao giơ lên chửi: “Đ.mẹ thằng nào vừa chém em tao”. Thấy T2 chửi, P sợ bị T2 đánh nên chạy ra chỗ xe của K2 nhờ K2 chở về quán B ở thôn T, xã T, huyện K. Nguyễn Văn L bị thương rách phần mềm bả vai trái được T và H đưa đi cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện huyện K. Những người còn lại bỏ về.

Thấy Nguyễn Văn L bị thương tích nên T1 điều khiển xe chở T2 đi tìm đánh P. T1 điều khiển xe chở T2 về quán nét 86 tìm nhưng không thấy P, T1 lại chở T2 đi ra đứng ở đầu đường trước cửa quán B1 ở ở thôn T, xã T khoảng 05 phút thì khi này thấy Phan Nhất L1, K1 và V1 (không rõ họ tên ở xã M, huyện Y) đi từ trong quán B ra phía cửa quán cách xe của T1 và T2 khoảng 10m. T1 điều khiển xe đến gần, T2 hỏi Phan Nhất L1: “Thằng xe trắng đi đâu rồi” (ý là hỏi tìm P) thì Phan Nhất L1 nói: “Chịu, nó đi đâu rồi ý”. Do bực tức vì không tìm được người đâm L1, nên T2 nhảy xuống xe cầm dao đuổi chém trúng lưng của Phan Nhất L1 thì L1 và V1 bỏ chạy vào phía trong quán B-a, T2 chạy theo về phía quán B-a. Khi này, K1 đứng lại một mình ở rìa đường thì T1 xuống xe, lấy 01 con dao gấp, nhọn trong túi quần đâm trúng vào cẳng tay trái của K1. (T2 không biết T1 mang theo dao và cũng không biết hay bàn bạc gì việc đánh gây thương tích cho K1). Khi đó, có anh Uông Văn A2 ở thôn B, xã T, huyện K và anh Hoàng Văn T4 ở thôn A, xã T, huyện K đi đến can ngăn thì T1 điều khiển xe chở T2 bỏ đi. Hậu quả: Phan Nhất L1 bị thương phần mềm vùng lưng cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện K và K1 bị đứt dây thần kinh giữa tay trái, rách da cẳng tay trái, mẻ xương quay phải đi cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện K rồi chuyển Bệnh viện Đ1 điều trị. Sau khi T1 dùng dao đâm K1 đã đưa lại dao cho T2 cầm rồi bỏ trốn.

Ngay sau khi nhận được tin báo của quần chúng nhân dân, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện K tiến hành khám nghiệm hiện trường thu tại sân Trung tâm thương mại xã D1 01 dao dài khoảng 0,3m, chuôi gỗ màu nâu dài khoảng 0,1m, lưỡi dao dài khoảng 0,2m màu trắng bạc, có một lưỡi sắc do P đâm Nguyễn Văn L bị rơi lại. T2 đã tự nguyện giao nộp 01 con dao màu đen, lưỡi dao màu trắng có tổng chiều dài là 47cm, phần mũi dao nhọn, chuôi dao màu nâu mà T2 sử dụng để đuổi chém Phan Nhất L1; Ngoài ra, T2 còn giao nộp 01 con dao gấp có tổng chiều dài là 20cm có bám dính chất màu nâu do T1 sử dụng đâm K1. Đồng thời, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện K đã tiến hành trích sao đoạn video lưu giữ tại hệ thống camera an ninh tại cửa quán B có ghi lại sự việc L1 và K1 bị chém, đâm gây thương tích.

Quá trình điều tra xác định: khu vực xung quanh sân Trung tâm thương mại xã D1 là nơi tập trung rất nhiều quán ăn, quán nước và là nơi sinh hoạt, đi lại của nhiều người dân, các phương tiện lưu thông trên đường. Việc các đối tượng tụ tập đông người ở sân Trung tâm thương mại xã D1 có mang theo dao, kiếm, gậy bóng chày, sau đó chửi nhau, đuổi đánh nhau, hò hét rồi dùng dao đâm nhau gây thương tích đã gây ảnh hưởng xấu đến cuộc sống sinh hoạt của người dân, ảnh hưởng đến tinh thần của người dân, gây hoang mang, bức xúc trong dư luận quần chúng nhân dân, làm mất an ninh trật tự tại địa phương.

Ngày 15/11/2024, Nguyễn Văn L và K1 có đơn yêu cầu giám định tỷ lệ tổn hại sức khỏe và khởi tố vụ án hình sự.

Ngày 16/11/2024, Phan Nhất L1 và gia đình có đơn từ chối giám định và không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự cũng như bồi thường về trách nhiệm dân sự vì thương tích không lớn.

Ngày 27/11/2024 Dương Văn T1 đến Công an huyện K để đầu thú.

Tại Kết luận giám định số 8923/KL-KTHS ngày 18 tháng 11 năm 2024 của V2 - Bộ C, kết luận:

  • + Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể : Đối chiếu bảng 1 - Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích ban hành kèm theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y, áp dụng Nguyên tắc 1, 3 và Mục I.2, C, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Nguyễn Danh K1 tại thời điểm giám định tối thiểu là: 12% (Mười hai phần trăm); Hiện tại, anh Nguyễn Danh K1 đang điều trị nên chưa khám đánh giá được đầy đủ các chuyên khoa nên chưa đánh giá được đầy đủ hết các tổn thương, di chứng chấn thương (nếu có). Đề nghị Cơ quan CSĐT Công an huyện K đưa anh K1 đi giám định bổ sung tại V2 sau khi ra viện khoảng 01 tháng.

  • + Cơ chế hình thành thương tích : Các tổn thương tại cẳng tay trái của anh Nguyễn Danh K1 do vật sắc hoặc vật sắc nhọn gây ra.

Tại Kết luận giám định số 8924/KL-KTHS ngày 18 tháng 11 năm 2024 của V2 - Bộ C, kết luận:

  • + Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể: Đối chiếu bảng 1 - Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích ban hành kèm theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y, áp dụng Nguyên tắc 1, 3 và Mục I.2, C, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể đối với vết thương đang liền sẹo vùng mặt sau vai - 1/3 trên cánh tay trái của anh Nguyễn Văn L tại thời điểm giám định là: 02% (Hai phần trăm).

  • + Cơ chế hình thành thương tích : Tổn thương tại vùng vai - cánh tay trái của anh Nguyễn Văn L do vật sắc hoặc vật sắc nhọn gây ra.

Ngày 26/11/2024, anh Nguyễn Văn L có đơn xin rút đơn yêu cầu khởi tố và miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho Bùi Đức P. Ngày 11/01/2025 Cơ quan điều tra Công an huyện K đã ra Quyết định đình chỉ điều tra bị can đối với Bùi Đức P về tội: Cố ý gây thương tích quy định tại khoản 1 Điều 134 của BLHS.

Ngày 12/12/2024, Cơ quan điều tra Công an huyện K ra Quyết định trưng cầu giám định bổ sung, T5 - Bộ C giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với K1 tại V2 - Bộ C.

Tại Kết luận giám định số 9766/KL-KTHS ngày 17 tháng 12 năm 2024 của V2 - Bộ C, kết luận:

  • + Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể : Đối chiếu bảng 1 - Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích ban hành kèm theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể đối với các thương tích như sau:

    • - Sẹo (vết thương + phẫu thuật) mặt sau 1/3 trên cẳng tay trái, kích thước trung bình: 02% (áp dụng Nguyên tắc 1, 3 và Mục I.2, Chương 8);

    • - Sẹo phẫu thuật mặt trước 1/3 trên cẳng tay trái, kích thước trung bình: 02% (áp dụng Nguyên tắc 1, 3 và Mục I.2, C);

    • - Mẻ 1/3 trên xương quay, chưa đến ống tủy: 01% (áp dụng Nguyên tắc chung 1 và Mục III.4.4, Chương 7);

    • - Tổn thương bán phần thần kinh giữa tay trái: 21% (áp dụng Mục VII.3.21, Chương 1);

  • Áp dụng phương pháp xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể quy định tại Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y, xác định tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Nguyễn Danh K1 tại thời điểm giám định bổ sung là 25% (hai mươi lăm phần trăm).

  • + Cơ chế hình thành thương tích: Các tổn thương tại cẳng tay trái của anh Nguyễn Danh K1 do vật sắc hoặc vật sắc nhọn gây ra.

Tại Bản kết luận giám định số 405 ngày 02/01/2025 của Phòng K3 - Công an tỉnh H, kết luận: Không phát hiện thấy dấu hiệu cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 02 file video lưu trong USB được niêm phong ký hiệu A1 và A2 gửi giám định.

Ngày 12/12/2024, Cơ quan điều tra Công an huyện K đã ra Quyết định trưng cầu giám định sinh học, so sánh dấu vết trên con dao gấp nhọn màu đen đã thu giữ và niêm phong của Nguyễn Văn T2 so sánh với ADN của Nguyễn Danh K1 tại V2 - Bộ C.

Tại Kết luận giám định số 9770/KL-KTHS ngày 13 tháng 01 năm 2024 của V2 - Bộ C, kết luận: Trên con dao đựng trong phong bì (ký hiệu A) có bám dính máu người và là máu của Nguyễn Danh K1. Lưu kiểu gen (ADN) của Nguyễn Danh K1 tại V2 - Bộ C. Hoàn trả lại đối tượng giám định: Một con dao đựng trong phong bì (ký hiệu A) được bàn giao lại cho đại diện của Cơ quan điều tra Công an huyện K tại V2 - Bộ C.

Về vật chứng vụ án: Đối với 01 dao gấp đựng trong phong bì niêm phong hoàn lại sau giám định của V2 - Bộ C; 01 dao dài khoảng 0,3m, chuôi gô màu nâu dài khoảng 0,1m, lưỡi dao dài khoảng 0,2m màu trắng bạc, có một lưỡi sắc; 01 dao màu đen, lưỡi dao màu trắng có tổng chiều dài là 47cm, phần mũi dao nhọn, chuôi dao màu nâu Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng chờ xử lý.

Đối với các xe mô tô các bị cáo và các đối tượng sử dụng xác định không sử dụng làm phương tiện để thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng và gây thương tích, gậy bóng chày bị Phan Nhất L1 vứt đi không nhớ địa điểm nên không có căn cứ để thu giữ.

Về trách nhiệm dân sự: Gia đình T1 đã bồi thường cho K1 tổng số tiền 150.000.000đ. K1 và gia đình không yêu cầu đề nghị thêm về phần trách nhiệm dân sự.

Gia đình P đã tự nguyện bồi thường cho Nguyễn Văn L tổng số tiền 10.000.000đ. Nguyễn Văn L và gia đình không yêu cầu đề nghị về phần trách nhiệm dân sự.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 35/2025/HS-ST ngày 25/3/2025, Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu đã quyết định:

Căn cứ: Điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 17; Điều 38; Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 90; Điều 91; khoản 1 Điều 101 của BLHS năm 2015 đối với bị cáo Đoàn Viết D.

Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Viết D phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Xử phạt: Bị cáo Đoàn Viết D 01 (Một) năm 06 (S) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án.

Ngoài ra bản án còn quyết định về tội danh, hình phạt đối với Đặng Văn T, Dương Công T3, Nguyễn Văn T2, Dương Văn T1 và Bùi Đức P; quyết định về xử lý vật chứng và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 04/4/2025, bị cáo Đoàn Viết D kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo Đoàn Viết D thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và giữ nguyên kháng cáo. Bị cáo xuất trình đơn trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn, xin giảm nhẹ hình phạt và xin được cải tạo tại địa phương, đơn có xác nhận, đề nghị của chính quyền địa phương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xác định: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Đoàn Viết D về tội Gây rối trật tự công cộng, theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan; mức hình phạt 01 năm 06 tháng tù đối với bị cáo là phù hợp. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo xuất trình thêm được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án hình sự sơ thẩm theo hướng giữ nguyên mức hình phạt nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Đoàn Viết D được làm trong thời hạn luật định, đảm bảo về hình thức, là kháng cáo hợp lệ nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2]. Về tội danh: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Đoàn Viết D thừa nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã tuyên. Xét lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp khách quan với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ căn cứ xác định: Trong khoảng thời gian từ 22 giờ đến 22 giờ 15 phút ngày 14/11/2024, tại Trung tâm thương mại xã D1 thuộc thôn Y, xã D, huyện K nơi có nhiều cửa hàng buôn bán, quán ăn, quán nước và là nơi sinh hoạt đi lại của nhiều người dân, các phương tiện lưu thông trên đường, Bùi Đức P, Nguyễn Văn T2, Đặng Văn T, Đoàn Viết D và Dương Công T3 đã tụ tập mang theo dao, gậy bóng chày chửi nhau, hò hét, đuổi đánh nhau. Hậu quả là P đã dùng dao gây thương tích cho anh Nguyễn Văn L (tỷ lệ thương tích là 02%) gây tâm lý lo sợ cho những người dân và các cửa hàng kinh doanh đang sinh sống, buôn bán xung quanh khu vực này, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự và an toàn tại địa phương.

Bởi hành vi nêu trên, cấp sơ thẩm đã truy tố, xét xử bị cáo Đoàn Viết D về tội Gây rối trật tự công cộng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3]. Xét kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Đoàn Viết D, Hội đồng xét xử xét thấy:

Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo đều tham gia vào việc thực hiện hành vi phạm tội với vai trò là người thực hành. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, vai trò, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xử phạt bị cáo Đoàn Viết D 01 năm 06 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng là phù hợp, đúng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo D xuất trình đơn xin giảm nhẹ hình phạt và xin được cải tạo tại địa phương, trình bày hoàn cảnh khó khăn, được chính quyền địa phương xác nhận. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới bị cáo được hưởng theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét trong vụ án này, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội ở tuổi vị thành niên, nhận thức pháp luật còn hạn chế, hành vi mang tính nông nổi; bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bố mẹ ly hôn từ khi bị cáo còn nhỏ nên sự quan tâm, chăm sóc, giáo dục của gia đình đối với bị cáo có phần hạn chế; bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và có nơi cư trú rõ ràng. Do đó, có căn cứ nhận kháng cáo của bị cáo, không buộc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mà giữ nguyên mức hình phạt tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo cũng đảm bảo việc giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời thể hiện sự nhân đạo, khoan hồng của pháp luật.

Quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tại phiên tòa có căn cứ chấp nhận.

[4]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5]. Về án phí: Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 343; điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357; khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đoàn Viết D. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2025/HSST ngày 25/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên.

Căn cứ: Điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 17; Điều 38; Điều 58; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 90; Điều 91; khoản 1 Điều 101; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Đoàn Viết D 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Gây rối trật tự công cộng, thời gian thử thách là 03 năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm 25/6/2025.

Giao bị cáo Đoàn Viết D cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện Y, tỉnh Hưng Yên và Công an xã V, huyện Y, tỉnh Hưng Yên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về án phí: Bị cáo Đoàn Viết D không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hưng Yên;

  • - Phòng HSNV - CA tỉnh Hưng Yên;

  • - TAND, VKSND huyện Khoái Châu;

  • - Chi cục THA dân sự huyện Khoái Châu;

  • - Những người tham gia tố tụng;

  • - Lưu: Hồ sơ vụ án; Tòa HC; VP.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Trung Kiên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2025/HS-PT ngày 25/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 34/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Đoàn Viết D phạm tội Gây rối trật tự công cộng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger