TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH Bản án số: 34/2024/HSPT Ngày 11/03/2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc —————————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hằng
Các Thẩm phán:
- Ông Chu Tuấn Vương
- Bà Nguyễn Thị Thu Hiền
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Thao – Cán bộ Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa:
Bà Bùi Thị Thuý Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 03 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 166/2024/TLPT –HS ngày 14 tháng 10 năm 2024 do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn L đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2024/HS-ST ngày 31/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 185/2024/QĐXXPT-HS ngày 18/12/2024 và các Quyết định hoãn phiên toà số 78/2024/QĐPT-HS ngày 30/12/2024; số 07A/2025/QĐPT-HS ngày 24/01/2025; số 11A/2025/QĐPT-HS ngày 24/02/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.
1. Bị cáo có kháng cáo
Nguyễn Văn L, sinh ngày 01 tháng 6 năm 1980 tại tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; trình độ văn hóa: 7/12; con ông Nguyễn Đức T, sinh năm 1948; con bà: Nguyễn Thị X, sinh năm 1950 (đã chết); có vợ là Phan Thị G, sinh năm 1984 và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2004, con nhỏ nhất sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm bắt tạm giam từ ngày 15/12/2023, đến ngày 02/02/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn Tạm giam bằng biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh. Bị cáo có mặt tại phiên toà
2. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Chị Nguyễn Thị O, sinh năm 1985; Nơi cư trú: thôn P, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình (vắng mặt)
Người làm chứng không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cần tiền giải quyết công việc và chi tiêu cá nhân, chị Nguyễn Thị O đặt vấn đề vay tiền của L, L đồng ý. L và chị O thỏa thuận mức lãi suất 3.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày, tương ứng lãi suất 108%/năm, gấp 5,4 lần so với mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Lượng thống nhất với chị O, cứ 10 ngày chị O phải trả tiền lãi cho L một lần theo lãi suất thỏa thuận. Khi chị O vay tiền, L sử dụng tài khoản ngân hàng Thương mại cổ phần S (S1) số 03007101018047 của L chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng Q (V) số tài khoản 120986868 của chị O và tài khoản ngân hàng số [...] của bà Nguyễn Thị T1 (mẹ chị O). Về hình thức trả tiền lãi: chị O có thể trả bằng tiền mặt hoặc chuyển tiền lãi vào số tài khoản ngân hàng của L. Cụ thể: Ngày 20/5/2023, L cho chị O vay 300.000.000 đồng. Ngày 30/5/2023, L đã thu tiền lãi của chị O là 9.000.000 đồng, trong đó số tiền lãi cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự là 1.667.000 đồng, thu lợi bất chính số tiền 7.333.000 đồng; Ngày 31/5/2023, chị O vay thêm của L 400.000.000 đồng chị O và bà Nguyễn Thị T1 đã đưa cho L 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Nguyễn Thị T1 để làm tin. Tổng số tiền chị O vay của L là 700.000.000 đồng. Đến ngày 17/8/2023, L đã thu tiền lãi của chị O là 161.700.000 đồng, trong đó số tiền lãi cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự là 29.945.000 đồng, số tiền L thu lợi bất chính là 131.755.000 đồng.
Ngày 17/8/2023, L và chị O đã thống nhất, từ sau ngày 17/8/2023, L không lấy tiền lãi đối với các khoản vay của chị O. Đến ngày 31/8/2023 chị O đã trả cho L 300.000.000 đồng tiền gốc. Đến nay, chị O chưa trả số tiền gốc còn lại là 400.000.000 đồng cho L.
Tổng số tiền Nguyễn Văn L thu lợi bất chính từ các khoản tiền vay trên là 139.088.000 đồng.
Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2024/HS-ST ngày 31/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình
- Về tội danh:
- Về hình phạt:
- Về xử lý vật chứng:
- 3.1. T2 tịch thu sung công 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu đen, đã qua sử dụng của bị cáo do dùng thực hiện hành vi phạm tội.
- 3.2. Tuyên trả cho chị Nguyễn Thị O 01 xe ô tô nhãn hiệu VIOS, biển kiểm soát 17A-191.33 đã qua sử dụng.
- Về biện pháp tư pháp:
- 4.1. Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 31.612.000 đồng là số tiền lãi cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự mà bị cáo thu từ chị Nguyễn Thị O và số tiền gốc là 300.000.000 đồng (là tiền mà bị cáo cho chị O vay, chị O đã trả cho bị cáo).
- 4.2. Buộc chị Nguyễn Thị O phải nộp lại 400.000.000 đồng là số tiền vay chưa trả cho bị cáo Nguyễn Văn L để sung vào Ngân sách Nhà nước.
- 4.3. Buộc bị cáo trả cho chị Nguyễn Thị O số tiền lãi vượt quá mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự là 139.088.000 đồng.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
Áp dụng vào khoản 2, khoản 3 Điều 201; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 50, Điều 38, Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 01 (một) năm tù, được trừ đi thời hạn bị cáo bị bắt tạm giam (từ ngày 15 tháng 12 năm 2023 đến ngày 02 tháng 02 năm 2024). Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án. Phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Văn L số tiền 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng để sung vào Ngân sách Nhà nước.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 13/8/2024, bị cáo Nguyễn Văn L kháng cáo xin được hưởng án treo và kháng cáo về việc xử lý vật chứng là chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios, biển kiểm soát 17A-191.33 của Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, đề nghị nhận lại ô tô vì đây là giao dịch dân sự giữa bị cáo và chị O.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn L khai nhận hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm đã tuyên xử và giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình sau khi phân tích toàn bộ nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân cũng như nội dung kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn L, sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm số 54/2024/HS-ST ngày 31 tháng 7 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Vũ Thơ, tỉnh Thái Bình về biện pháp chấp hành hình phạt đối với bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo, tuyên trả lại chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios, biển kiểm soát 17A-191.33 vì giao dịch số tiền 300.000.000đồng giữa bị cáo và chị O được xác định là giao dịch dân sự, bị cáo là chủ sở hữu hợp pháp chiếc xe ô tô trên.
Bị cáo không có tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát và nói lời sau cùng: đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để cho bị cáo được hưởng án treo.
Căn cứ vào những chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo:
- Xét hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn L thấy:
- Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn L
- [3.1]. Xét kháng cáo về hình phạt:
- [3.2]. Xét kháng cáo về phần xử lý vật chứng đối với chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios, biển kiểm soát 17A-191.33.
Kháng cáo của bị cáo làm trong hạn luật định là hợp lệ nên được xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Chị O đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần vẫn vắng mặt, áp dụng điều 292 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử theo thủ tục chung.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ được thu thập có trong hồ sơ vụ án, vì vậy, có đủ căn cứ xác định: Trong khoảng thời gian từ ngày 20/5/2023 đến ngày 30/5/2023, Nguyễn Văn L đã có hành vi cho chị Nguyễn Thị O vay số tiền là 300.000.000 đồng, với mức lãi suất 3.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày, tương ứng lãi suất 108%/năm, gấp 5,4 lần so với mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính số tiền 7.333.000 đồng.
Trong khoảng thời gian từ ngày 31/5/2023 đến ngày 17/8/2023, Nguyễn Văn L đã có hành vi cho Nguyễn Thị O vay tổng số tiền là 700.000.000 đồng (trong đó 300.000 đồng vào ngày 20/5/2023 và 400.000.000 đồng vay vào ngày 31/5/2023), với mức lãi suất 3.000 đồng/1.000.000đồng/ngày, tương ứng lãi suất 108%/năm, gấp 5,4 lần so với mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính số tiền 131.755.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo Nguyễn Văn L đã thu lợi bất chính vào ngày 20/5/2023 và ngày 31/5/2023 là 139.088.000 đồng.
Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Văn L về “Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự" theo khoản 2, 3 Điều 201 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hội đồng xét xử thấy rằng hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm đến hoạt động quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng. Hành vi phạm tội của bị cáo làm cho người vay tiền lâm vào hoàn cảnh khó khăn, gây bất bình trong quần chúng nhân dân, làm ảnh hướng xấu đến công tác đấu tranh phòng chống tội phạm và là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tội phạm khác. Bị cáo là người đã trưởng thành, nhận thức được hành vi của mình là sai trái, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì lợi nhuận mà vẫn thực hiện. Khi quyết định hình phạt, Toà án cấp sơ thẩm đã áp dụng cho bị cáo hai tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, từ đó tuyên phạt bị cáo Nguyễn Văn L 01 (một) năm tù là phù hợp với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên giai đoạn phúc thẩm bị cáo đã nộp tổng 361.812.000đồng gồm tiền phạt bổ sung, tiền bị cáo dùng cho vay, tiền lãi vượt quá mức lãi suất theo quy định pháp luật và giao nộp bệnh án có bố đẻ bị mắc bệnh tâm thần. Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy đây là những tình tiết mới phát sinh tại cấp phúc thẩm do đó có căn cứ xác định bị cáo thực sự ăn năn hối cải và có ý thức chấp hành bản án. Xét bị cáo lần đầu phạm tội, chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo L được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà giao cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú và gia đình quản lý, giáo dục cũng đủ tỉnh răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Căn cứ Nghị quyết số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo thì bị cáo đủ điều kiện hưởng án treo.
Bị cáo được xin lại chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios, biển kiểm soát 17A-191.33 vì chiếc xe không liên quan đến hành vi phạm tội. Xét thấy, ngày 08/9/2023, Nguyễn Văn L cho chị Nguyễn Thị O vay 300.000.000 đồng, L không lấy lãi, chị O để lại chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios, biển kiểm soát 17A-191.33, mang tên Nguyễn Thị O để làm tin, khi nào trả tiền vay trên cho L, chị O sẽ lấy lại chiếc ô tô. Vì vậy chiếc xe trên là tài sản bảo đảm trong giao dịch dân sự, là tài sản hợp pháp của bị cáo. Điều này thể hiện tại trang 4 Cáo trạng số 40/CT- VKSVT ngày 14/5/2024 đã kết luận Cơ quan điều tra công an huyện V, tỉnh Thái Bình không xử lý đối với Nguyễn Văn L về hành vi này nhưng Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2024/HS-ST ngày 31/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình tuyên “trả cho chị Nguyễn Thị O 01 xe ô tô nhãn hiệu VIOS, biển kiểm soát 17A-191.33 đã qua sử dụng” là không đúng quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự.
Từ những phân tích trên cần áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự, chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị cáo, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 54/2024/HS-ST ngày 31/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình về biện pháp chấp hành hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn L, giữ nguyên mức hình phạt và cho bị cáo Nguyễn Văn L được hưởng án treo để bị cáo tự cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương là thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật, sửa về phần xử lý vật chứng, tuyên trả lại cho bị cáo chiếc xe ô tô nhãn hiệu VIOS, biển kiểm soát 17A-191.33 là đúng quy định của pháp luật.
- Về án phí:
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn L được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự, chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn L, sửa Bản án sơ thẩm số 54/2024/HS-ST ngày 31/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình về biện pháp chấp hành hình phạt đối với bị cáo, sửa về phần xử lý vật chứng.
- [1.1] Về tội danh:
- [1.2]. Về hình phạt:
- [1.3]. Về xử lý vật chứng:
- - T2 tịch thu sung công 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu đen, đã qua sử dụng của bị cáo do dùng thực hiện hành vi phạm tội.
- - Tuyên trả lại bị cáo Nguyễn Văn L chiếc xe ô tô nhãn hiệu VIOS, biển kiểm soát 17A-191.33.
- [1.4]. Về biện pháp tư pháp và án phí hình sư sơ thẩm:
- Về án phí hình sự phúc thẩm:
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án 11/03/2025.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
Áp dụng vào khoản 2, khoản 3 Điều 201; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 50, Điều 38, Điều 46, Điều 47, Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 01 (một) năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm ngày 11/3/2025.
Giao bị cáo Nguyễn Văn L cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Văn L số tiền 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng để sung vào Ngân sách Nhà nước. Bị cáo đã nộp phạt 30.000.000đồng số biên lai 0001119 ngày 11/3/2025 tại Chi cục thi hành án huyện Vũ Thư, đối trừ bị cáo còn phải nộp 20.000.000đồng.
Bị cáo phải nộp đủ số tiền 331.612.000đồng (trong đó 300.000.000đồng dùng để cho vay và 31.612.000đồng tiền lãi nặng) và 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo đã nộp đủ tại biên lai số 0001098 ngày 06/01/2025 và biên lai số 0001096 ngày 26/12/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.
Bị cáo Nguyễn Văn L không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Kim Hằng |
Bản án số 34/2024/HSPT ngày 11/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về hình sự - cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 34/2024/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo
