Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH VĨNH PHÚC

Bản án số: 34/2025/HS-PT

Ngày 03 - 04 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Anh Cường

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Duy Sơn

Ông Hoàng Văn Sỹ

- Thư ký phiên toà:Bà Triệu Mỹ Linh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà:

Bà Mầu Mai Quyên - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 30/2025/TLPT-HS ngày 21 tháng 02 năm 2025 do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Đ đối với bản án hình sự sơ thẩm số 05/2025/HS-ST ngày 17/01/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.

- Bị cáo kháng cáo:

Nguyễn Văn Đ, sinh ngày 15 tháng 01 năm 1995, tại xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Lê Thu H; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 03/9/2017 bị Công an huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt hành chính về hành vi “Có lời nói cử chỉ xúc phạm nhân phẩm danh dự người khác”, mức phạt 200.000 đồng (Ngày 01/12/2017 Đ đã nộp phạt); bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/9/2024 đến nay (Có mặt).

Trong vụ án còn có người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhưng không có kháng cáo, kháng nghị Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 00 ngày 16/9/2024, Nguyễn Văn Đ điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đen bạc, BKS: 88G1 - 309.37 đi từ nhà ở xã T đến quán G ở ngõ A, đường T, tổ dân phố M, phường K, thành phố V để chơi game từ 08 giờ 00 phút đến khoảng 23 giờ 00 phút cùng ngày. Sau đó, Đ đi ra xe máy lấy 01 chiếc tua vít có chiều dài khoảng 5cm, màu cam, xanh, phần đầu làm bằng kim loại dài khoảng 2 cm, 01 chiếc khẩu trang đúc vào túi quần, 01 áo cộc màu đen đúc vào cạp quần phía trước (Những vật dụng này được Đông chuẩn bị trước khi đi, mục đích chờ đến tối xem nhà nào có tài sản sơ hở thì trộm cắp để bán lấy tiền tiêu xài). Sau đó, Đ đi bộ men theo ngõ A đường T, đi men bờ hồ cạnh đó. Khi đi đến giữa đường bờ hồ, Đ dừng lại, cởi áo cộc màu trắng sọc xanh lẫn tím treo ở lan can sắt bờ hồ, mặc áo cộc màu đen, đeo khẩu trang rồi tiếp tục đi qua nhiều tuyến phố. Khi đi đến ngã tư giao giữa đường P và đường Đ thuộc tổ dân phố T, phường K, thành phố V, Đông quan sát thấy có một dãy nhà dân liền kề sát nhau, cao tầng có thể đột nhập được để trộm cắp tài sản. Đ đi một vòng quan sát tìm vị trí thuận lợi để trèo lên nóc nhà. Sau đó, Đ đi từ mương nước trèo qua các cửa sổ, giá đỡ cục nóng điều hòa lên nóc nhà số H rồi leo sang nóc nhà số H đường P, bước sang nóc nhà số G sang nóc nhà số G đường P, bước ngược lại các số nhà H, 80, 78 đường P, lần lượt kiểm tra các nóc nhà dân này xem có nhà nào có thể đột nhập được vào bên trong thì phát hiện nóc nhà số G đường P của gia đình chị Nguyễn Thị Thu N có một tầng tum nhỏ, cửa nhôm đóng khóa có thể đột nhập được vào bên trong. Đ lấy tua vít tháo 02 ốc vít bản lề của cửa, dùng tay banh tấm nhôm ra rồi thò tay vào mở chốt khóa bên trong và men theo cầu thang đi xuống tầng một. Đông vào phòng khách, bếp thì không thấy tài sản gì trộm cắp được, tiếp tục đi vào phòng ngủ ở tầng 01 không thấy có người bên trong. Đông sử dụng 01 kéo kim loại có chuôi nhựa màu đỏ vừa lấy ở trong bếp để cạy cánh cửa tủ quần áo rồi tìm trong tủ quần áo, thấy có một chiếc túi vải màu đen kích thước khoảng 15x10cm bên trong có nhiều vàng; tầng trên trong ngăn tủ quần áo có một con lợn nhựa màu xanh, kích thước khoảng 20x30cm, bên trong có tiền mặt. Đ tiếp tục mở vali bên cạnh túi vàng thấy bên trong có 20.000.000đồng tiền mặt. Đ lấy toàn bộ số tiền trong vali, đúc vào trong túi vàng và ôm con lợn nhựa đi lên tầng thượng. Do đổ nhiều mồ hôi, Đông cởi áo cầm trên tay. Khi lên đến nóc nhà, Đông móc toàn bộ tiền trong lợn nhựa được 2.000.000đồng tiền mặt rồi vứt con lợn nhựa ở trên nóc nhà số H, đường P và trèo xuống đất. Sau đó, Đ đi bộ đến vị trí lúc trước thay áo và cởi chiếc áo màu đen, tháo khẩu trang vứt xuống hồ và mặc lại chiếc áo cộc màu trắng sọc xanh vào người, tiếp tục đi bộ về lán để xe của quán game. Tại đây, Đ mở cốp xe, để tua vít vào, rồi đến quầy thanh toán của quán game, lấy tiền mặt trong túi quần, trả cho anh Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1994 ở xã T, huyện B là quản lý quán game 150.000đồng tiền chơi game và số tiền 2.100.000đồng nợ trước đó. Trả tiền xong, Đ điều khiển xe máy đi về nhà và cất giấu túi vàng vào chiếc balo trong phòng ngủ của mình.

Chiều cùng ngày 17/9/2024, Đ đến quán điện thoại “ANH THƯ STORE”, ở thôn T, xã T, huyện B, đưa cho anh Nguyễn Quốc T1, sinh năm 1995, HKTT: Xã T, huyện M, thành phố Hà Nội, chủ cửa hàng điện thoại số tiền mặt 20.000.000 đồng nhờ anh T1 chuyển vào số tài khoản 9704228166 tại Ngân hàng thương mại cổ phần Q của Đ.

Ngày 21/9/2024, chị Nguyễn Thị Thu N có đơn trình báo Công an phường K, thành phố V về việc gia đình chị bị mất trộm tài sản và tự nguyện giao nộp: 01 chiếc kéo dài 8cm bị cong phần đầu kéo, có chuôi nhựa màu đỏ và 01 con lợn nhựa màu xanh đã bị rách.

Ngày 21/9/2024, Công an thành phố V triệu tập Đ lên làm việc. Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nêu trên và tự nguyện giao nộp: 01 miếng kim loại màu vàng ký hiệu SJC NP23239, trọng lượng 10 chỉ; 02 chiếc nhẫn kim loại màu vàng ký hiệu SJC bên ngoài khắc hình rồng, mỗi chiếc có trọng lượng 05 chỉ; 04 chiếc nhẫn tròn trơn kim loại màu vàng ký hiệu SJC, mỗi chiếc có trọng lượng 01 chỉ; 01 chiếc nhẫn tròn trơn kim loại màu vàng ký hiệu 3 CHI, có trọng lượng 03 chỉ; 03 chiếc nhẫn tròn trơn kim loại màu vàng ký hiệu 2, mỗi chiếc có trọng lượng 02 chỉ; 01 chiếc nhẫn tròn trơn kim loại màu vàng ký hiệu ICHI, có trọng lượng 01 chỉ; 06 miếng kim loại màu vàng hình Elip, mỗi miếng có trọng lượng 01 chỉ; 02 miếng kim loại màu vàng hình tròn, mỗi miếng có trọng lượng 01 chỉ; 01 nhẫn kim loại màu vàng, ký hiệu 1.5, bên trên có gắn 01 viên đá màu xanh ngọc, trọng lượng 1,5 chỉ, 01 dây chuyền kim loại màu vàng có gắn mặt hình trái tim ký hiệu VNCN, trọng lượng 04 chỉ; 02 nhẫn kim loại màu vàng hình tròn, bên trên có họa tiết các đồng tiền xu đan vào nhau ký hiệu MN, trọng lượng 01 chỉ; 01 dây chuyền kim loại màu vàng, trắng có mặt dây chuyền hình tròn đính đá màu trắng, loại vàng tây; 01 nhẫn kim loại màu vàng hình tròn ký hiệu 750, loại vàng tây; 01 nhẫn kim loại màu vàng hình tròn, bên trong ký hiệu 700 VAT, bên trên có gắn 01 viên đá màu trắng ở giữa và 8 viên đá nhỏ ở khung viền. Ngoài ra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V còn tạm giữ của Đ: 01 điện thoại Samsung Galaxy màu sáng trắng bị sọc màn hình; 01 đôi dép nhãn hiệu BITAS (dép gà) màu đen; 01 chiếc quần bò ngố màu xanh bên trong có gắn mác JEAN túi quần phải phía sau in các hình ký tự đặc biệt; 01 áo cộc tay màu trắng dạng áo thể thao, hình sọc trước ngực màu tím lẫn màu xanh.

Ngày 21/9/2024, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét nơi ở của Nguyễn Văn Đ tại thôn T, xã T, huyện B. Kết quả thu giữ: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đen bạc, BKS: 88G1 - 309.37, có số khung: RLHHC1254FY376638, số máy: HC12E7376677; 01 đăng ký xe mang tên Nguyễn Văn T; 01 chiếc tua vít dài 5cm có đầu bằng kim loại màu bạc có 4 cạnh, chuôi cầm bằng nhựa màu xanh có in chữ màu trắng PROTEK viền xung quanh và đáy màu cam; 01 bút thử điện dài 10cm màu cam có đầu bằng kim loại màu bạc có 2 cạnh; 01 tua vít dài 15cm có đầu làm bằng kim loại màu đen có 4 cạnh, chuôi cầm bằng nhựa màu đen viền xung quanh màu vàng.

Ngày 21/9/2024, ông Nguyễn Văn T (bố đẻ của Đ) tự nguyện giao nộp số tiền 22.000.000 đồng cho Cơ quan điều tra Công an thành phố V để khắc phục hậu quả cho Đ.

Ngày 26/9/2024, Cơ quan Điều tra ra Quyết định trưng cầu giám định đối với số kim loại màu vàng tạm giữ khi triệu tập, bắt giữ Nguyễn Văn Đ. Tại bản Kết luận giám định số 7401/KL - KTHS ngày 07/10/2024, V (C09) Bộ C kết luận:

  • - 01 (một) miếng kim loại màu vàng, mặt trước có các chữ, số “SJC RỒNG VÀNG 999.9", "CÔNG TY VÀNG BẠC ĐÁ QUÝ", "37,5 gram (1 LƯỢNG)", "NP23239", mặt sau có hình con rồng và các chữ, số “SJC", "999.9" (ký hiệu M1) có khối lượng 37,50 gam là vàng (Au), hàm lượng Au: 99,99%.
  • - 02 (hai) chiếc nhẫn kim loại màu vàng, mỗi chiếc bên trong đều có dòng chữ “C1 ĐÁ QUÝ SÀI GÒN SJC", bên ngoài đều có hình rồng (ký hiệu M2) có tổng khối lượng 37,50 gam đều là vàng (A), hàm lượng trung bình A: 99,99%.
  • - 04 (bốn) chiếc nhẫn kim loại tròn trơn màu vàng (ký hiệu M3) có tổng khối lượng 15,00 gam đều là vàng (A), hàm lượng trung bình A: 99,99%.
  • - 01 (một) chiếc nhẫn kim loại tròn trơn màu vàng, mặt trong nhẫn có chữ, số “Trường Hằng 3 CHỈ” (ký hiệu M4) có khối lượng 11,25 gam là vàng (Au), hàm lượng Au: 99,13%.
  • - 01 (một) chiếc nhẫn kim loại tròn trơn màu vàng, mặt trong nhẫn có chữ, số “Trường H1" (ký hiệu M5) có khối lượng 7,50 gam là vàng (Au), hàm lượng Au: 98,60%, ngoài ra còn có bạc (A1), hàm lượng Ag: 1,40%,
  • - 01 (một) chiếc nhẫn kim loại tròn trơn màu vàng, mặt trong nhẫn có chữ, số “2 Trường H2" (ký hiệu M6) có khối lượng 7,52 gam là vàng (Au), hàm lượng Au: 99,00%, ngoài ra còn có bạc (A1), hàm lượng Ag: 1,00%,
  • - 01 (một) chiếc nhẫn kim loại tròn trơn màu vàng, mặt trong nhẫn có chữ, số “2 Gia Bảo” (ký hiệu M7) có khối lượng 7,50 gam là vàng (Au), hàm lượngAu: 98,91%, ngoài ra còn có bạc (A1), hàm lượng Ag: 1,09%,
  • - 01 (một) chiếc nhẫn kim loại tròn trơn màu vàng, mặt trong nhẫn có chữ, số “1 CHI Xuân Bao” (ký hiệu M8) có khối lượng 3,75 gam là vàng (Au), hàm lượng Au: 98,18%, ngoài ra còn có bạc (A1), hàm lượng Ag: 1,82%,
  • - 03 (ba) miếng kim loại màu vàng hình elip, một mặt có hình người (ký hiệu M9) có tổng khối lượng 11,24 gam là vàng (A), hàm lượng trung bình A: 99,97%.
  • - 02 (hai) miếng kim loại màu vàng hình elip, một mặt có hình người đều (ký hiệu M10) có tổng khối lượng 7,49 gam là vàng (A), hàm lượng trung bình A: 99,98%.
  • - 01 (một) miếng kim loại màu vàng hình elip, một mặt có hình người (ký hiệu M11) có khối lượng 3,75 gam là vàng (Au), hàm lượng Au: 99,96%.
  • - 01 (một) miếng kim loại màu vàng hình tròn, một mặt có hình con trâu (ký hiệu M12) có khối lượng 3,74 gam là vàng (Au), hàm lượng Au: 99,94%.
  • - 01 (một) miếng kim loại màu vàng hình tròn, một mặt có hình con dê (ký hiệu M13) có khối lượng 3,75 gam là vàng (Au), hàm lượng Au: 99,97%.
  • - 01 (một) dây chuyền kim loại màu vàng, mặt dây chuyền kim loại màu vàng hình trái tim có chữ “VNCN” (ký hiệu M14) có tổng khối lượng 18,76 gam là vàng (A), hàm lượng trung bình A: 99,49%.
  • - 02 (hai) nhẫn kim loại màu vàng hình tròn có chữ “MN”, “QT” (ký hiệu M15) có tổng khối lượng 7,48 gam là vàng (A), hàm lượng trung bình A: 99,50%.
  • - 01 (một) nhẫn kim loại màu vàng, mặt trong có số, chữ “750 K” (ký hiệu M16) có khối lượng 2,57 gam là hợp kim của vàng (A), bạc (A1), đồng (Cu), kẽm (Z), hàm lượng: Au: 71,22%, Ag: 15,54%, Cu: 13,04%, Zn: 0,20%.
  • - 01 (một) dây chuyền kim loại màu vàng, mặt dây chuyền kim loại màu vàng chế tác dạng hai hình tròn lồng vào với nhau, có gắn các viên đá không màu (ký hiệu M17) có tổng khối lượng 19,00 gam (tính cả các viên đá) trong đó: Phần kim loại là hợp kim của vàng (A), bạc (A1), đồng (Cu), kẽm (Z1), hàm lượng Au: 75,08%, Ag: 10,30%, Cu: 13,09%, Zn: 1,53%. Các viên đá không màu gắn trên mặt dây chuyền đều là đá CZ.
  • - 01 (một) nhẫn kim loại màu vàng, mặt trong có các số "15", "6666", trên nhẫn có gắn 01 viên đá màu xanh ngọc (ký hiệu M18) có tổng khối lượng 8,35 gam (tính cả viên đá màu xanh ngọc) trong đó: Phần kim loại là vàng (A), hàm lượng Au: 96,94%, ngoài ra còn có bạc (Ag), đồng (Cu), hàm lượng Ag: 2,85%, Cu: 0,21%.Viên đá màu xanh ngọc gắn trên nhẫn là ngọc Jade loại C.
  • - 01 (một) nhẫn kim loại màu vàng, mặt trong nhẫn có các số, chữ “700VAT”, trên nhẫn có gắn các viên đá không màu (ký hiệu M19) có tổng khối lượng 5,09 gam (tính cả các viên đá) trong đó: Phần kim loại là hợp kim của vàng (A), bạc (A1), đồng (Cu), kẽm (Z1), hàm lượng Au: 70,03%, Ag: 12,13%, Cu: 17,05%, Zn: 0,79%. Các viên đá không màu gắn trên nhẫn đều là đá CZ.

Cơ quan Điều tra ra các Quyết định trưng cầu giám định kỹ thuật số điện tử đối với các đoạn video thu giữ tại nhà chị Nguyễn Thị Thu N tại số G đường P, phường K, thành phố V; nhà anh Dương Hồng L, sinh năm 1988, trú tại tổ dân phố M, phường K, thành phố V; cửa hàng điện thoại “Anh Thư store”, địa chỉ: thôn T, xã T, huyện B.

Tại Kết luận giám định số 3140/KL-KTHS ngày 4/11/2024, Phòng K Công an tỉnh V kết luận: Không phát hiện thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa về nội dung diễn biến xuất hiện trên các tệp tin video lưu trong mẫu gửi giám định. Trích xuất được 08 ảnh mô tả diễn biến của người xuất hiện trong các tệp tin video lưu trong mẫu gửi giám định, toàn bộ ảnh được thể hiện trong Bản ảnh giám định. 03 tệp video lưu trong mẫu gửi giám định được sao lưu vào đĩa DVD. Kèm theo kết luận giám định: 01 đĩa DVD và 01 bản ảnh giám định có chữ ký của giám định viên và dấu của phòng K Công an tỉnh.

Tại Kết luận giám định số 3141/KL-KTHS ngày 4/11/2024 Phòng K Công an tỉnh kết luận: Không phát hiện thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa về nội dung diễn biến xuất hiện trên các tệp tin video lưu trong mẫu gửi giám định. Trích xuất được 12 ảnh mô tả diễn biến của người và phương tiện xuất hiện trong các tệp tin video lưu trong mẫu gửi giám định, toàn bộ ảnh được thể hiện trong Bản ảnh giám định. 02 tệp video lưu trong mẫu gửi giám định được sao lưu vào đĩa DVD. Kèm theo kết luận giám định: 01 đĩa DVD và 01 bản ảnh giám định có chữ ký của giám định viên và dấu của phòng K Công an tỉnh.

Tại Kết luận giám định số 3142/KL-KTHS ngày 4/11/2024, Phòng K Công an tỉnh kết luận: Không phát hiện thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa về nội dung diễn biến xuất hiện trên các tệp tin video lưu trong mẫu gửi giám định. Trích xuất được 07 ảnh mô tả diễn biến của người xuất hiện trong các tệp tin video lưu trong mẫu gửi giám định, toàn bộ ảnh được thể hiện trong Bản ảnh giám định.Tệp tin video lưu trong mẫu gửi giám định được sao lưu vào đĩa DVD. Kèm theo kết luận giám định: 01 đĩa DVD và 01 bản ảnh giám định có chữ ký của giám định viên và dấu của phòng K Công an tỉnh.

Ngày 29/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V cho ông Nguyễn Văn T nhận dạng qua 27 hình ảnh được chụp, cắt từ video clip trích xuất của Camera an ninh ở số nhà G đường P, phường K và tại quán G thuộc Tổ dân phố M, phường K, thành phố V; cửa hàng điện thoại “Anh Thư store”. Ông T khẳng định người trong 27 hình ảnh mà Cơ quan điều tra đưa ra là Nguyễn Văn Đ con trai ông T.

Ngày 11/10/2024, Cơ quan Điều tra ra yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND thành phố V xác định giá trị của số vàng thu giữ khi triệu tập, bắt giữ Nguyễn Văn Đ. Tại Kết luận định giá tài sản số: 123/KL - HĐĐG ngày 15/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND thành phố V kết luận:

  • - 01 (một) miếng kim loại màu vàng, mặt trước có các chữ, số “SJC RỒNG VÀNG 999.9", "CÔNG TY VÀNG BẠC ĐÁ QUÝ", "37,5 gram (1 LƯỢNG)", "NP23239", mặt sau có hình con rồng và các chữ, số “SJC", "999.9" có khối lượng 37,50 gam là vàng (Au), hàm lượng Au: 99,99%. Trị giá 82.000.000đ.
  • - 02 (hai) chiếc nhẫn kim loại màu vàng, mỗi chiếc bên trong đều có dòng chữ “C1 ĐÁ QUÝ SÀI GÒN SJC", bên ngoài đều có hình rồng có tổng khối lượng 37,50 gam đều là vàng (A), hàm lượng trung bình A: 99,99%. Trị giá 77.733.000₫.
  • - 04 (bốn) chiếc nhẫn kim loại tròn trơn màu vàng có tổng khối lượng 15,00 gam đều là vàng (A), hàm lượng trung bình A: 99,99%. Tổng trị giá 31.120.000₫.
  • - 01 (một) chiếc nhẫn kim loại tròn trơn màu vàng, mặt trong nhẫn có khắc các ký tự “Trường Hằng 3 CHỈ” có khối lượng 11,25 gam là vàng (Au), hàm lượng Au: 99,13%. Trị giá 22.962.000đ.
  • - 01 (một) chiếc nhẫn kim loại tròn trơn màu vàng, mặt trong nhẫn khắc các ký tự “Trường Hằng 2" có khối lượng 7,50 gam là vàng (Au), hàm lượng Au: 98,60%, ngoài ra còn có bạc (A1), hàm lượng Ag: 1,40%. Trị giá 15.000.000đ.
  • - 01 (một) chiếc nhẫn kim loại tròn trơn màu vàng, mặt trong nhẫn khắc các ký tự “2 Trường H2" có khối lượng 7,52 gam là vàng (Au), hàm lượng Au: 99,00%, ngoài ra còn có bạc (A1), hàm lượng Ag: 1,00%. Trị giá 15.000.000đ.
  • - 01 (một) chiếc nhẫn kim loại tròn trơn màu vàng, mặt trong nhẫn khắc các ký tự “2 Gia Bảo” có khối lượng 7,50 gam là vàng (Au), hàm lượng Au: 98,91%, ngoài ra còn có bạc (A1), hàm lượng Ag: 1,09%. Trị giá 14.167.000đ.
  • - 01 (một) chiếc nhẫn kim loại tròn trơn màu vàng, mặt trong nhẫn khắc các ký tự“1 CHI Xuân Bao” có khối lượng 3,75 gam là vàng (Au), hàm lượng Au: 98,18%, ngoài ra còn có bạc (A1), hàm lượng Ag: 1,82%. Trị giá 7.600.000₫.
  • - 03 (ba) miếng kim loại màu vàng hình elip, một mặt có hình người có tổng khối lượng 11,24 gam là vàng (A), hàm lượng trung bình A: 99,97%. Trị giá 22.998.000₫.
  • - 02 (hai) miếng kim loại màu vàng hình elip, một mặt có hình người có tổng khối lượng 7,49 gam là vàng (A), hàm lượng trung bình A: 99,98%. Trị giá 15.500.000đ.
  • - 01 (một) miếng kim loại màu vàng hình elip, một mặt có hình người có khối lượng 3,75 gam là vàng (Au), hàm lượng Au: 99,96%. Trị giá 7.600.000đ.
  • - 01 (một) miếng kim loại màu vàng hình tròn, một mặt có hình con trâu có khối lượng 3,74 gam là vàng (Au), hàm lượng Au: 99,94%. Trị giá 7.600.000₫.
  • - 01 (một) miếng kim loại màu vàng hình tròn, một mặt có hình giống con dê có khối lượng 3,75 gam là vàng (Au), hàm lượng Au: 99,97%. Trị giá 7.600.000₫.
  • - 01 (một) dây chuyền kim loại màu vàng có gắn mặt hình trái tim kim loại màu vàng, bên trong hình trái tim khắc các ký tự “VNCN” có tổng khối lượng 18,76 gam là vàng (A), hàm lượng trung bình A: 99,49%. Trị giá 38.000.000₫.
  • - 02 (hai) nhẫn kim loại màu vàng hình tròn có chữ “MN”, “QT” có tổng khối lượng 7,48 gam là vàng (A), hàm lượng trung bình A: 99,50%. Trị giá 15.000.000đ.
  • - 01 (một) nhẫn kim loại màu vàng, mặt trong có số, chữ “750 Kim Duy” có khối lượng 2,57 gam là hợp kim của vàng (A), bạc (A1), đồng (Cu), kẽm (Z1), hàm lượng Au: 71,22%, Ag: 15,54%, Cu: 13,04%, Zn: 0,20%. Trị giá 3.800.000₫.
  • - 01 (một) dây chuyền kim loại màu vàng, mặt dây chuyền kim loại màu vàng chế tác dạng hai hình tròn lồng vào với nhau, có gắn các viên đá không màu có tổng khối lượng 19,00 gam (tính cả các viên đá) trong đó: Phần kim loại là hợp kim của vàng (A), bạc (A1), đồng (Cu), kẽm (Z1), hàm lượng Au: 75,08%, Ag: 10,30%, Cu: 13,09%, Zn: 1,53%; các viên đá không màu gắn trên mặt dây chuyền đều là đá CZ. Tổng trị giá 27.700.000₫.
  • - 01 (một) nhẫn kim loại màu vàng, mặt trong có các số "15", "6666", trên nhẫn có gắn 01 viên đá màu xanh ngọc có tổng khối lượng 8,35 gam (tính cả viên đá màu xanh ngọc) trong đó: Phần kim loại là vàng (A), hàm lượng Au: 96,94%, ngoài ra còn có bạc (Ag), đồng (Cu), hàm lượng Ag: 2,85%, Cu: 0,21%; viên đá màu xanh ngọc gắn trên nhẫn là ngọc Jade loại C. Tổng trị giá 11.700.000đ.
  • - 01 (một) nhẫn kim loại màu vàng, mặt trong nhẫn có các số, chữ “700VAT”, trên nhẫn có gắn các viên đá không màu có tổng khối lượng 5,09 gam (tính cả các viên đá) trong đó: Phần kim loại là hợp kim của vàng (A), bạc (A1), đồng (Cu), kẽm (Z1), hàm lượng Au: 70,03%, Ag: 12,13%, Cu: 17,05%, Zn: 0,79%; các viên đá không màu gắn trên nhẫn đều là đá CZ. Tổng trị giá là 7.500.000₫.

Tổng giá trị tất cả số vàng như nêu trên là 430.580.000₫ (Bốn trăm ba mươi triệu năm trăm tám mươi nghìn đồng).

Đối với hành vi sử dụng 01 chiếc kéo dài 8cm, có chuôi nhựa màu đỏ để cạy chiếc tủ gỗ lấy tài sản nhà chị Nguyễn Thị Thu N làm chiếc tủ gỗ bị trầy xước; hành vi xé rách con lợn nhựa màu xanh và hành vi dùng tô vít tháo ốc vít của cửa nhôm của gia đình chị N của Nguyễn Văn Đ: Quá trình điều tra chị N khẳng định chiếc tủ gỗ chỉ bị trầy xước nhẹ, không ảnh hưởng đến công năng sử dụng; con lợn nhựa màu xanh giá trị nhỏ; phần cửa nhôm sau khi lắp ốc vít vào vẫn sử dụng bình thường nên chị không có yêu cầu đề nghị gì. Do tài sản có giá trị thấp, tủ và cửa nhôm bị hại vẫn sử dụng nên Cơ quan điều tra không định giá đối với các tài sản này.

Với hành vi nêu trên tại bản án hình sự sơ thẩm số 05/2025/HS-ST ngày 17/01/2025 Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 11 (Mười một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 21 tháng 9 năm 2024.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định xử lý vật chứng, quyết định án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 23/01/2025,bị cáo Nguyễn Văn Đ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên toà bị cáo giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc giữ quyền công tố tại phiên toà phúc thẩm phát biểu quan điểm, phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, đã đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Đ, sửa bản án sơ thẩm theo hướng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng năm tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Đ làm trong hạn luật định, hợp lệ được xem xét giải quyết.

[2] Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nguyễn Văn Đ đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, lời khai tại phiên tòa sơ thẩm, có đủ căn cứ để xác định như sau: Khoảng 01 giờ 20 phút ngày 17/9/2024, tại số nhà G, đường P, phường K, thành phố V, lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của gia đình chị Nguyễn Thị Thu N, Nguyễn Văn Đ đã lén lút đột nhập vào nhà qua cửa tầng tum để trộm cắp tài sản gồm nhiều nhẫn vàng, dây chuyền vàng, vàng miếng có trị giá theo kết luận định giá là 430.580.000 đồng và 22.000.000 đồng tiền mặt; tổng trị giá tài sản Đ đã trộm cắp là 452.580.000 đồng.

Với hành vi phạm tội nêu trên Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo a khoản 3 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, mà còn ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Cấp sơ thẩm đã xử phạt Nguyễn Văn Đ 11 (Mười một) năm tù là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Xét đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Văn Đ, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây bất bình trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an và an toàn xã hội tại địa phương. Do vậy, việc đưa bị cáo ra xử lý nghiêm minh trước pháp luật là cần thiết để giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên trong quá trình chẩn bị xét xử phúc thẩm, gia đình bị cáo giao nộp các tài liệu bổ sung thể hiện ông nội của bị cáo là người có công với cách mạnh, đã tham gia kháng chiến và là thương binh hạng A (Thương tật 1/8); ông ngoại của bị cáo đã tham gia dân quân du kích và là thương binh hạng 3/6; sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo đã tác động người nhà để bồi thường thêm số tiền 20.000.000đ cho người bị hại để khắc phục hậu quả do bị cáo gây ra và bồi thường tổn thất tinh thần cho gia đình bị hại; bị cáo được địa phương xác nhận trước khi phạm tội là người chấp hành tốt mọi chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, tích cực tham gia các phong trào của Đoàn thanh niên và hoạt động khác tại khu dân cư. Đây là những tình tiết mới chưa được xem xét tại cấp sơ thẩm, Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo và chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, sửa bản án sơ thẩm, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để bị cáo có điều kiện cải tạo, sớm trở thành công dân có ích cho xã hội.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Như đã nhận định, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, gia đình có ông nội, ông ngoại là thương binh, tài sản trộm cắp đã thu hồi trả lại cho bị hại, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật, Hội đồng xét xử xem xét giảm 03 năm tù cho bị cáo để bị cáo yên tâm cải tạo.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Đ được Hội đồng xét xử chấp nhận nên bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Đ, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 05/2025/HS-ST ngày 17/01/2025 của Toà án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.

Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 08 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 21 tháng 9 năm 2024.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bị cáo Nguyễn Văn Đ không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • -VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Sở tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - TAND thành phố Vĩnh Yên;
  • - VKSNDthành phố Vĩnh Yên;
  • - Cơ quan THAHS tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Chi cục THADS thành phố Vĩnh Yên;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ + Toà hình sự.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

(đã ký)

Đỗ Anh Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2025/HS-PT ngày 03/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về trộm cắp tài sản (phúc thẩm hình sự)

  • Số bản án: 34/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Phúc thẩm hình sự)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 03/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Đ trộm cắp tài sản là vàng và tiền
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger