Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HUẾ

Bản án số: 34/2025/HS-PT

Ngày: 03 - 03 - 2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Thanh.

Các Thẩm phán: Ông Lê Hữu Nam và ông Lê Vũ Tiến.

Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Năm, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Huế.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Toàn, Kiểm sát viên.

Trong các ngày 25 tháng 02 năm 2025 và ngày 03 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Huế (số A T, phường P, quận T, thành phố H) xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 133/2024/TLPT-HS ngày 13/12/2024 đối với bị cáo Văn Trọng T, do có kháng cáo của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Phạm Long Q, bà Nguyễn Thị Bích C đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 314/2024/HS-ST ngày 07/11/2024 của Toà án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là Toà án nhân dân quận Thuận Hoá, thành phố H).

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan kháng cáo:

  1. Anh Phạm Long Q, sinh năm 1990. Nơi cư trú: A T, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là quận P, thành phố H); có mặt.
  2. Bà Nguyễn Thị Bích C, sinh năm 1967. Nơi cư trú: B C, phường G, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là quận P, thành phố H); có mặt.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Nguyễn Thị Bích C: Ông Võ Công H - Luật sư của Công ty L thuộc Đoàn luật sư thành phố H; địa chỉ: B L, phường X, quận T, thành phố H; có mặt.

- Bị cáo không có kháng cáo, không bị kháng nghị: Văn Trọng T, sinh ngày 27/6/1983 tại tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H); giới tính: Nam; căn cước công dân số: [...], cấp ngày 27 tháng 8 năm 2021; nơi cư trú: 2 N, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là quận T, thành phố H); nghề nghiệp: Kinh doanh tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Văn Trọng T1, sinh năm 1956 và bà Lê Thị G, sinh năm 1963; vợ: Nguyễn Thị Hồng V, sinh năm 1985; con: Có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2016, con nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 19/3/2024 đến ngày 18/6/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh” cho đến nay; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 12 năm 2022, anh Phạm Long Q cầm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây viết tắt là Giấy chứng nhận) đến gặp bà Lê Thị Thanh T2 để hỏi vay tiền. Bà T2 yêu cầu anh Q phải lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho bà T2 để đảm bảo cho việc trả tiền gốc và lãi thì anh Q đồng ý. Sau khi ký công chứng hợp đồng chuyển nhượng xong, bà T2 cho anh Q vay tiền như thoả thuận giữa hai bên.

Đến giữa tháng 12 năm 2022, anh Q gặp Văn Trọng T, nhờ giới thiệu người cho vay tiền với lãi suất thấp thì T cho biết có bà Nguyễn Thị Bích C cho vay tiền với lãi suất 3.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày (tương đương mức lãi suất 109,5%/năm), T liên hệ với bà C, nếu thống nhất thì sẽ làm thủ tục vay tiền. Anh Q nói với T là mình muốn vay số tiền 3.000.000.000 đồng, T nói muốn vay số tiền 3.000.000.000 đồng thì phải có tài sản để đảm bảo cho việc trả tiền gốc và lãi. Anh Q nói với T rằng là có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thuộc sở hữu của mẹ anh Q. Sau đó T về liên hệ bà C hỏi vay số tiền 3.000.000.000 đồng, bà C yêu cầu lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho bà C với giá 4.000.000.000 đồng và thỏa thuận lãi suất 1.800 đồng/1.000.000 đồng/ngày (tương đương mức lãi suất vay 65,7%/năm), thu tiền lãi trước 01 tháng với số tiền 162.000.000 đồng. Sau khi thống nhất với bà C, T trao đổi lại với anh Q rằng muốn vay số tiền 3.000.000.000 đồng thì phải lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho bà C với giá 4.000.000.000 đồng, thu tiền lãi trước 02 tháng với tổng số tiền 540.000.000 đồng của mức lãi suất 3.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày thì anh Q đồng ý.

Ngày 21/12/2022, tại Văn phòng C2 (số F T, phường P, thành phố H), sau khi làm thủ tục công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho bà C. Do một lúc không gom đủ số tiền nên các bên thoả thuận sẽ phân thành nhiều gói nhỏ, chuyển nhiều lần. Cùng ngày, bà C cho T vay số tiền 1.700.000.000 đồng. Tương tự việc thoả thuận với bà C về việc phân khoản vay ra nhiều gói nhỏ, ngày 21/12/2022, T cho anh Q vay số tiền 1.980.000.000 đồng. Theo yêu cầu của anh Q, T thay Q chuyển vào tài khoản trả cho bà T2 số tiền 1.900.000.000 đồng.

Ngày 22/12/2022, bà C cho T vay tiếp số tiền 300.000.000 đồng.

Ngày 26/12/2022, bà C cho T vay tiếp số tiền 900.000.000 đồng, theo thỏa thuận bà C thu tiền lãi trước 01 tháng với số tiền 162.000.000 đồng của khoản vay 3.000.000.000 đồng nên số tiền thực tế T nhận được là 738.000.000 đồng (trong tổng số tiền 900.000.000 đồng).

Ngày 27/12/2022, T cho anh Q vay số tiền 320.000.000 đồng.

Ngày 28/12/2022, T cho anh Q vay số tiền 700.000.000 đồng, theo thỏa thuận T thu tiền lãi trước 02 tháng với số tiền 540.000.000 đồng của khoản vay 3.000.000.000 đồng. Do Q vẫn tưởng rằng T đang làm trung gian, giúp mình vay tiền từ bà C nên đã cho T số tiền 20.000.000 đồng, do đó số tiền thực tế anh Q nhận được là 140.000.000 đồng (trong tổng số tiền 700.000.000 đồng).

Ngày 29/12/2022, bà C cho T vay số tiền 100.000.000 đồng.

Ngày 20/01/2023, bà C cho T vay số tiền 200.000.000 đồng, thỏa thuận lãi suất cho vay 2.500 đồng/1.000.000 đồng/ngày (tương đương mức lãi suất 91,25%/năm), thu tiền lãi trước 01 tháng với số tiền là 15.000.000 đồng, số tiền thực tế T nhận được là 185.000.000 đồng (trong tổng số tiền 200.000.000 đồng).

Ngày 23/01/2023, T cho anh Q vay số tiền 50.000.000 đồng, thỏa thuận mức lãi suất 3.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày (tương đương mức lãi suất 109,5%/năm) và thu tiền lãi trước 01 tháng với số tiền 4.500.000 đồng, số tiền thực tế anh Q nhận được là 45.500.000 đồng (trong tổng số tiền 50.000.000 đồng).

Tổng cộng: Bà C cho T vay số tiền 3.200.000.000₫ đồng, thỏa thuận mức lãi suất cho vay từ 1.800 đồng/1.000.000 đồng/ngày đến 2.500 đồng/1.000.000 đồng/ngày (tương đương mức lãi suất từ 65,7%/năm đến 91,25%/năm), thu tiền lãi với tổng số tiền là 162.000.000 đồng + 15.000.000 đồng = 177.000.000 đồng. Tổng số tiền thực tế T nhận được là 3.023.000.000 đồng.

Tạo cho anh Q vay với tổng số tiền 3.050.000.000 đồng, thỏa thuận lãi suất 3.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày (tương đương mức lãi suất 109,5%/năm), thu tổng số tiền lãi là 540.000.000 đồng + 4.500.000 đồng = 544.500.000 đồng và anh Q đồng ý cho T số tiền 20.000.000 đồng, nên tổng số tiền thực tế anh Q nhận được từ T là 2.485.500.000 đồng.

Do trả lãi cao trong thời gian dài nên anh Q nhiều lần liên lạc, đề nghị T liên hệ với bà C cho anh Q tất toán các khoản vay theo hợp đồng để anh Q lấy lại Giấy chứng nhận đưa vào ngân hàng làm thủ tục vay thế chấp. Tuy nhiên, T không thực hiện mà đưa ra nhiều lý do nhằm kéo dài thời gian và anh Q không gặp được bà C để tất toán các khoản vay. Tự tìm hiểu, anh Q biết được T vay tiền của bà C với lãi suất thấp và cho mình vay lại với lãi suất cao hơn như nêu trên nên đã yêu cầu T phải tất toán các khoản vay giữa anh Q với T và các khoản vay giữa T với bà C để anh Q lấy lại sổ đỏ nhưng T không thực hiện. Vì vậy, anh Q chỉ đồng ý thỏa thuận trả tiền lãi cho T trong thời gian 01 tháng, cụ thể như sau:

  • Tại khoản vay ngày 21/12/2022: Số tiền gốc 1.980.000.000 đồng thỏa thuận lãi suất 3.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày, tiền lãi trong 30 ngày là 178.200.000 đồng (trong đó lãi hợp pháp 20%/năm là 32.547.945 đồng và lãi bất hợp pháp 145.652.055 đồng).
  • Tại khoản vay ngày 27/12/2022: Số tiền gốc 320.000.000 đồng thỏa thuận lãi suất 3.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày, tiền lãi trong 24 ngày là 23.040.000 đồng (trong đó lãi hợp pháp 20%/năm là 4.208.219 đồng và lãi bất hợp pháp 18.831.781 đồng).
  • Tại khoản vay ngày 28/12/2022: Số tiền gốc 700.000.000 đồng thỏa thuận lãi suất 3.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày, tiền lãi trong 23 ngày là 48.300.000 đồng (trong đó lãi hợp pháp 20%/năm là 8.821.918 đồng và lãi bất hợp pháp 39.478.082 đồng).
  • Tại khoản vay ngày 23/01/2023: Số tiền gốc 50.000.000 đồng, thỏa thuận lãi suất 3.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày, tiền lãi trong 30 ngày là 4.500.000 đồng (trong đó lãi hợp pháp 20%/năm là 821.918 đồng và lãi bất hợp pháp 3.678.082 đồng).

Như vậy, Văn Trọng T cho anh Phạm Long Q vay với tổng số tiền 3.050.000.000 đồng, thỏa thuận lãi suất 3.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày (tương đương mức lãi suất 109,5%/năm), thời hạn vay 01 tháng, thu lãi với số tiền 254.040.000 đồng, trong đó: lãi hợp pháp 20%/năm là 46.400.000 đồng và lãi bất hợp pháp (thu lợi bất chính) là 207.640.000 đồng.

Ngày 07/02/2023, anh Q đến gặp trực tiếp bà C để vay số tiền 650.000.000 đồng, thỏa thuận lãi suất 2.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày (tương đương mức lãi suất 73%/năm).

Ngày 08/3/2023, anh Q đến gặp bà C để lấy lại Giấy chứng nhận mà trước đó T dùng để đảm bảo cho việc trả tiền gốc và lãi của khoản vay 3.200.000.000 đồng thì bà C yêu cầu Q phải trả số tiền gốc và lãi của khoản vay 3.200.000.000 đồng do T vay và khoản vay 650.000.000 đồng do anh Q vay, cụ thể như sau:

Đối với khoản vay 3.200.000.000 đồng:

  • + Tại khoản vay ngày 21/12/2022, số tiền gốc là 1.700.000.000 đồng, thỏa thuận lãi suất 1.800 đồng/1.000.000 đồng/ngày. Thời hạn vay tính đến ngày 08/3/2023 là 77 ngày với số tiền lãi là 235.620.000 đồng. Trong đó lãi hợp pháp 20%/năm là 71.726.027 đồng và lãi bất hợp pháp là 163.893.973 đồng
  • + Tại khoản vay ngày 22/12/2022, số tiền 300.000.000 đồng, thỏa thuận lãi suất 1.800 đồng/1.000.000 đồng/ngày. Thời hạn vay tính đến ngày 08/3/2023 là 76 ngày với số tiền lãi là 41.040.000 đồng. Trong đó lãi hợp pháp 20%/năm là 12.493.151 đồng và lãi bất hợp pháp là 28.546.849 đồng.
  • + Tại khoản vay ngày 26/12/2022, số tiền gốc 900.000.000 đồng, thỏa thuận lãi suất 1.800 đồng/1.000.000 đồng/ngày. Thời hạn vay tính đến ngày 08/3/2023 là 72 ngày với số tiền lãi là 116.640.000 đồng. Trong đó lãi hợp pháp 20%/năm đào 35.506.849 đồng và lãi bất hợp pháp là 81.133.151 đồng.
  • + Tại khoản vay ngày 29/12/2022, số tiền gốc 100.000.000 đồng, thỏa thuận lãi suất 1.800 đồng/1.000.000 đồng/ngày. Thời hạn vay tính đến ngày 08/3/2023 là 69 ngày với số tiền lãi là 12.420.000 đồng. Trong đó lãi hợp pháp 20%/năm là 3.780.822 đồng và lãi bất hợp pháp là 8.639.178 đồng.
  • + Tại khoản vay ngày 20/01/2023, số tiền gốc 200.000.000 đồng, thỏa thuận lãi suất 2.500 đồng/1.000.000 đồng/ngày. Thời hạn vay tính đến ngày 08/3/2023 là 47 ngày với số tiền lãi là 23.500.000 đồng. Trong đó lãi hợp pháp 20%/năm là 5.150.685 đồng và lãi bất hợp pháp là 18.349.315 đồng.

Đối với khoản vay 650.000.000 đồng vào ngày 07/02/2023, thỏa thuận lãi suất 2.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày. Thời hạn vay tính đến ngày 08/3/2023 là 29 ngày với số tiền lãi là 37.700.000 đồng. Trong đó lãi hợp pháp 20%/năm là 10.328.767 đồng và lãi bất hợp pháp là 27.371.233 đồng.

Tổng cộng số tiền anh Q cần phải trả cho bà C đối với khoản vay của T và của chính mình để lấy lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là: 3.200.000.000 đồng + (235.620.000 đồng +41.040.000 đồng + 116.640.000 đồng + 12.420.000 đồng + 23.500.000 đồng - 177.000.000 đồng (tiền lãi T đã trả cho ...bà C) + 650.000.000 đồng +37.700.000 đồng = 4.139.920.000 đồng. Hiện anh Q đã trả cho bà C số tiền 4.004.000.000 đồng (bao gồm: 3.452.220.000 đồng tiền gốc và lãi mà T đã vay và 551.789.000 đồng tiền gốc mà anh Q vay của bà C) nên anh Q còn thiếu của bà C số tiền 135.920.000 đồng (bao gồm: tiền gốc là 98.220.000 đồng, lãi hợp pháp 20%/năm là 10.328.767 đồng và lãi bất hợp pháp là 27.371.233 đồng).

Vật chứng thu giữ: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 11 ProMax, màu xanh, số IMEI1: 353899106675463 và IMEI2: 353899106763095 đã qua sử dụng.

Về xử lý vật chứng: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 11 ProMax, màu xanh, số IMEI1: 353899106675463 và IMEI2: 353899106763095 đã qua sử dụng là công cụ, phương tiện thực hiện hành vi phạm tội, tiếp tục lưu giữ phục vụ công tác xét xử.

Về trách nhiệm dân sự:

Anh Phạm Long Q yêu cầu Văn Trọng T trả lại số tiền 920.320.000 đồng, cụ thể:

  • Thứ nhất: Số tiền 20.000.000 đồng anh Q đã cho T vì tưởng T là người giới thiệu bà C cho T vay tiền.
  • Thứ hai: Tạo thu tiền lãi tạm ứng trước 02 tháng của khoản vay 3.000.000.000 đồng của anh Q là 540.000.000 đồng. Nay T và anh Q xác nhận thời hạn cho vay là 01 tháng tương ứng với số tiền lãi theo thỏa thuận 3.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày là 249.540.000 đồng nên T phải trả lại cho anh Q số tiền là: 540.000.000 đồng - 249.540.000 đồng = 290.460.000 đồng.
  • Thứ ba: Anh Q vay của T với tổng số tiền là 3.050.000.000 đồng thỏa thuận lãi suất là 3.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày và số tiền lãi anh Q phải trả trong thời hạn 01 tháng là 254.040.000 đồng (trong đó lãi hợp pháp 20%/năm là 46.400.000 đồng và lãi bất hợp pháp là 207.640.000 đồng). Do đó anh Q yêu cầu T phải trả lại cho anh Q số tiền lãi thu lợi bất chính của khoản vay 3.050.000.000 đồng là 207.640.000 đồng.
  • Thứ tư: Do T dùng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của mẹ anh Q để vay của bà C với tổng số tiền 3.200.000.000 đồng, thỏa thuận lãi suất từ 1.800 đồng/1.000.000 đồng/ngày đến 2.500 đồng/1.000.000 đồng/ngày và bà C đã tạm thu tiền lãi trước 01 tháng với tổng số tiền là 177.000.000 đồng nhưng T không thực hiện nghĩa vụ việc trả tiền gốc và lãi cho bà C những tháng tiếp theo. Do đó, để lấy lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ chỗ bà C, anh Q phải trả cho bà C với tổng số tiền gốc và lãi tính đến ngày 08/3/2024 là 3.200.000.000 đồng + (429.220.000 đồng – 177.000.000 đồng) = 3.452.220.000 đồng. Do đó sau khi trừ đi số tiền gốc 3.050.000.000 đồng mà anh Q chưa trả cho T thì T còn phải trả lại cho Q số tiền là: 3.452.220.000 đồng - 3.050.000.000 đồng = 402.220.000 đồng.

Tổng cộng số tiền anh Q yêu cầu T phải trả lại cho mình là: 20.000.000 đồng + 290.460.000 đồng + 207.640.000 đồng + 402.220.000 đồng = 920.320.000 đồng. Hiện nay T chưa trả số tiền này cho anh Q.

- Bà Nguyễn Thị Bích C yêu cầu anh Phạm Long Q trả cho bà C số tiền 108.548.767 đồng (trong đó: 98.220.000 đồng tiền gốc và 10.328.767 đồng tiền lãi hợp pháp 20%/năm). Hiện nay anh Q chưa trả cho bà C.

Như vậy, trong thời gian từ ngày 21/12/2022 đến ngày 23/01/2023, tại thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, Văn Trọng T đã có hành vi cho anh Phạm Long Q vay tổng số tiền 3.050.000.000 đồng, thời hạn vay 01 tháng, với mức lãi suất 3.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày (tương đương mức lãi suất 109,5%/năm) cao gấp 5,475 lần so với mức lãi suất cao nhất mà Bộ luật Dân sự quy định (20%/năm), thu lợi bất chính số tiền 207.640.000 đồng (Hai trăm linh bảy triệu sáu trăm bốn mươi nghìn đồng).

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 314/2024/HS-ST ngày 07/11/2024 của Toà án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là Toà án nhân dân quận Thuận Hoá, thành phố H) quyết định:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Văn Trọng T phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
  2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 2, khoản 3 Điều 201; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự:

    Xử phạt bị cáo Văn Trọng T 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 03 (Ba) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Văn Trọng T cho Ủy ban nhân dân phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án Hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    Xử phạt bổ sung bị cáo Văn Trọng T 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng).

  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên:

    Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước điện thoại di động nhãn hiệu iPhone ProMax, màu xanh, số IMEI1: 353899106675463 và IMEI2: 353899106763095, đã qua sử dụng.

    Vật chứng trên đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế theo biện bản giao nhận vật chứng ngày 10/7/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Huế.

  4. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự:
    • - Truy thu của bà Nguyễn Thị Bích C số tiền gốc 3.050.000.000 đồng là công cụ phương tiện phạm tội để sung vào Ngân sách Nhà nước.
    • - Buộc bị cáo Văn Trọng T phải nộp lại số tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự (20%/năm) mà bị cáo đã thu của anh Q là 46.400.000 đồng để sung vào Ngân sách Nhà nước.
  5. Về trách nhiệm dân sự:
    • - Buộc bị cáo Văn Trọng T phải trả lại cho anh Phạm Long Q số tiền là 518.100.000 đồng (Năm trăm mười tám triệu một trăm nghìn đồng).
    • - Bà Nguyễn Thị Bích C có quyền khởi kiện yêu cầu bị cáo Văn Trọng T trả lại số tiền đã vay bằng một vụ án dân sự khác và khoản tiền lãi 177.000.000 đồng mà bà C đã thu của bị cáo sẽ được xem xét đối trừ trong vụ án dân sự theo quy định của pháp luật.

Sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (Đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 21/11/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Phạm Long Q có đơn kháng cáo với nội dung: Xem xét hành vi lừa đảo của bị cáo T, cô tình giả mạo là con của bà C1 là người có tài sản để cầm cố và chiếm đoạt tài sản bà C cho anh Q vay; dẫn đến bà C buộc anh phải trả và viết giấy nợ khoản vay của bị cáo và tiền lãi, đe dọa làm ảnh hưởng đến gia đình và cuộc sống.

Không chấp nhận phần định đoạt về tội danh của bị cáo Văn Trọng T và anh Q yêu cầu bà Nguyễn Thị Bích C trả lại cho anh Q số tiền 293.671.233 đồng

Ngày 25/11/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Bích C có đơn kháng cáo với nội dung: Không chấp nhận quyết định của Tòa án về việc truy thu của bà Nguyễn Thị Bích C số tiền gốc 3.050.000.000 đồng là công phương tiện phạm tội để sung vào Ngân sách Nhà nước.

Tại phiên toà phúc thẩm anh Phạm Long Q và bà Nguyễn Thị Bích C vẫn giữ nguyên kháng cáo.

Tại phiên toà phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế có quan điểm về tính hợp pháp của kháng cáo:

  • - Toà án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự" theo khoản 2 Điều 201 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội nên căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 của Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị không chấp nhận kháng cáo của anh Phạm Long Q về việc định tội danh đối với bị cáo T.
  • - Đối với nội dung kháng cáo yêu cầu bà Nguyễn Thị Bích C trả lại cho anh Q số tiền 293.671.233 đồng, Viện kiểm sát đề nghị không chấp nhận vì anh không có quyền kháng cáo nội dung này.
  • - Về vấn đề truy thu số tiền 3.050.000.000 đồng là công phương tiện phạm tội để sung vào Ngân sách Nhà nước là đúng quy định của pháp luật. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 của Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Bích C.
  • - Về biện pháp tư pháp: Đề nghị giữ nguyên nội dung bản án sơ thẩm.
  • - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Nguyễn Thị Bích C trình bày quan điểm: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo để hủy án sơ thẩm về hình sự để điều tra lại và sửa nội dung giải quyết trách nhiệm dân sự đối với việc truy thu số tiền 3.050.000.000 đồng của bà C.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về nội dung vụ án:

Trong thời gian từ ngày 21/12/2022 đến ngày 23/01/2023, tại địa bàn thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (cũ), do nhu cầu cần vay tiền để kinh doanh, anh Phạm Long Q đã nhờ Văn Trọng T giới thiệu tìm người cho vay với lãi suất thấp thì được T cho biết có bà Nguyễn Thị Bích C cho vay tiền với lãi suất 3.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày (tương đương mức lãi suất 109,5%/năm) nếu thống nhất thì T sẽ liên hệ bà C làm thủ tục vay tiền.

Anh Q nói với T là mình muốn vay số tiền 3.000.000.000 đồng, T nói muốn vay số tiền 3.000.000.000 đồng thì phải có tài sản để đảm bảo cho việc vay, trả tiền gốc và lãi; anh Q nói với T là có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thuộc sở hữu của mẹ anh Q (là bà Nguyễn Thị C1). Tạo đã về liên hệ với bà C hỏi vay số tiền 3.000.000.000 đồng, bà C yêu cầu lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền đất ở được bà C thỏa thuận giá 4.000.000.000 đồng.

Sau khi T trao đổi với bà C và hai bên thỏa thuận mức lãi suất cho vay 1.800 đồng/1.000.000 đồng/ngày (tương đương mức lãi suất vay 65,7%/năm), thu tiền lãi trước 01 tháng với số tiền 162.000.000 đồng.

Tiếp theo, T đã gian dối với Q và báo rằng muốn vay số tiền 3.000.000.000 đồng thì phải lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho bà C với giá 4.000.000.000 đồng, thu tiền lãi trước 02 tháng với tổng số tiền 540.000.000 đồng của mức lãi suất 3.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày, do tin tưởng T nên anh Q đồng ý.

Ngày 21/12/2022, tại Văn phòng C2, số F T, phường P, thành phố H (nay là số F T, phường P, quận T, thành phố H), T đã giới thiệu cho bà Nguyễn Thị C1 (là mẹ của anh Phạm Long Q) và bà Nguyễn Thị Bích C ký hợp đồng mua, bán nhà và đất của bà C1 tại số A đường T, phường T, thành phố H (nay là phường T, quận P, thành phố H) theo qui định pháp luật; nhằm mục đích để bà C cho anh Q vay số tiền như T và bà C đã thỏa thuận.

Khi hai bên ký hợp đồng mua, bán nhà, bà C vẫn tưởng T là con của bà C1, nên khi hai bên ký hợp đồng xong bà C có hỏi bà C1 chuyển tiền cho ai thì được bà C1 đồng ý chuyển cho T, nên bà C đã lấy số tài khoản của T do T đưa và từ ngày 21/12/2022 đến ngày 20/01/2023 bà C đã chuyển cho T nhiều lần (5 lần) tổng cộng số tiền gốc là 3.200.000.000 đồng.

Tuy nhiên, bà C chỉ chuyển cho T thực nhận số tiền là 3.023.000.000 đồng, do bà Châu T3 lãi trước hai lần số tiền là 177.000.000 đồng (162.000.000 đồng + 15.000.000 đồng).

Do trước đó T đã giới thiệu và được anh Q thống nhất mức lãi suất thỏa thuận do T đưa ra, nên anh Q vẫn tưởng khoản tiền gốc cho vay và mức lãi suất là do bà C yêu cầu; T đã lợi dụng sự tin tưởng giữa các bên để lấy chính khoản tiền này chuyển cho Q rồi tính mức lãi suất cao hơn mức lãi bà C cho vay; nhưng bà C, anh Q cũng như bà C1 hoàn toàn không biết hành vi gian dối này của T đối với anh Q.

Vì vậy, kể từ ngày 21/12/2022 đến ngày 28/12/2022 T đã 04 lần chuyển tiền cho Q, tổng cộng số tiền gốc là 3.050.000.000 đồng nhưng anh Q chỉ thực nhận số tiền là 2.485.500.000 đồng tiền gốc do T đã 02 lần trừ lãi với số tiền là 544.500.000 đồng (540.000.000 đồng + 4.500.000 đồng) rồi T lấy số tiền này.

Do phải trả lãi suất cao trong thời gian dài nên anh Q yêu cầu T thanh toán toàn bộ tiền gốc, lãi mà T cho Q vay để lấy lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng nhiều lần Tạo né tránh không gặp; buộc anh Q phải liên hệ bà C để lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở, nhà ở đã cầm cố trước đó cho bà C thì hai bên mới biết T đã có hành vi gian dối về việc cho vay, mức lãi suất cũng như nhận tiền của người chủ tài sản (là bà C1) để lấy tiền của bà C thực hiện hành vi phạm tội.

Bị bà C ép buộc phải thanh toán các khoản vay và lãi suất khoản tiền T đã nhận từ bà C và phải trả thay cho T khoản lãi suất vượt quá mức cho phép của pháp luật; làm ảnh hưởng đến cuộc sống gia đình của mình, nên anh Q đã làm đơn tố cáo hành vi cho vay lãi nặng của Văn Trọng T; với mức lãi suất 3.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày (tương đương mức lãi suất 109,5%/năm) cao gấp 5,475 lần so với mức lãi suất cao nhất mà Bộ luật Dân sự quy định (20%/năm).

[2]. Xét kháng cáo của anh Phạm Long Q và bà Nguyễn Thị Bích C, Hội đồng xét xử xét thấy:

[2.1]. Về nội dung kháng cáo của anh Q ngày 21 tháng 11 năm 2024, cho rằng: Do T có hành vi gian dối để bà C nhầm tưởng Tạo con của bà C1 (là mẹ anh Q) rồi lấy chính khoản tiền bà C cho anh Q là người được vay (có được từ hợp đồng mua bán nhà giữa bà C1 với bà C); T đã lừa dối, thực hiện hành vi cho anh vay lãi suất cao hơn mức lãi suất pháp luật qui định; vì vậy đề nghị cấp phúc thẩm xem xét hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bị cáo.

Buộc bà C phải trả lại cho anh số tiền lãi do anh đã trả cho bà C theo kết quả điều tra của cơ quan điều tra và Tòa án cấp sơ thẩm tuyên.

[2.2]. Xét nội dung kháng cáo của bà Nguyễn Thị Bích C, đề nghị: Xem xét hành vi gian dối của T đối với bà về việc vay tiền nhưng T đã che dấu khi biết T không phải là con của bà C1 để cố ý lấy tiền bà cho vay với mức lãi suất cao hơn, dẫn đến bị Phạm Long Q tố cáo và bị xét xử hành vi cho vay lãi nặng; Vì vậy, cấp sơ thẩm đã tuyên tịch thu tiền gốc bà đã chuyển cho T là không có căn cứ; do bà nhầm tưởng T là con bà C1, việc thỏa thuận này là tự nguyện, không vi phạm pháp luật về lãi suất; đề nghị cấp phúc thẩm xem xét hủy bỏ vì đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của bà.

[3]. Tại phiên tòa phúc thẩm: Qua xét hỏi, đối chất và tranh tụng, Hội đồng xét xử, xét thấy:

[3.1]. Xuất phát từ nhu cầu cần vay vốn làm ăn kinh doanh, anh Phạm Long Q được mẹ ruột của mình là bà Nguyễn Thị C1 đồng ý bảo lãnh bằng việc cầm cố giấy CNQSD đất và nhà ở đứng tên bà tại số A T, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là số A T, phường T, quận P, thành phố H) cho bà C thông qua hình thức ký hợp đồng mua bán nhà tại Văn phòng C2 vào ngày 21/12/2022 tại số F T, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, nay là số F T, phường P, quận T, thành phố H).

Qua tìm hiểu anh Q được T giới thiệu bà C là người cho vay tiền nhưng T đã gian dối và tự đưa ra thông tin không đúng sự thật về mức lãi suất bà C thỏa thuận, cụ thể:

Bà C thỏa thuận tính lãi từ 1.800 đồng đến 2.500 đồng/1.000.000 đồng/ngày; nhưng T lại báo với anh Q và cho rằng bà C tính lãi suất 3.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày (cao hơn từ 500 đồng đến 1.200 đồng) để thực hiện hành vi lấy khoản tiền lãi suất cao gấp 5 lần trên số tiền gốc bà C thỏa thuận chuyển theo hợp đồng mua, bán nhà, đất với bà C1, với mục đích cho anh Q (con bà C1) vay số tiền là tiền 3.000.000.000 đồng như đã nêu trên.

Sau khi giới thiệu thực hiện hợp đồng giữa bà C1 với bà C, do T đã nắm được thông tin thỏa thuận giao dịch thế chấp tài sản bằng hình thức hợp đồng giữa các bên; để tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, ngày 21/12/2022 T đã môi giới cho bà C1 và bà C ký hợp đồng mua bán tài sản là nhà, đất của bà C tại số A T, phường T, thành phố H, với giá 4.000.000.000 đồng để bà C cho vay số tiền 3.000.000.000 đồng và thỏa thuận lãi suất 1.800 đồng/1.000.000 đồng/ngày (tương đương mức lãi suất vay 65,7%/năm), thu tiền lãi trước 01 tháng với số tiền 162.000.000 đồng.

Mặc dù biết rất rõ các khoản tiền mà bà C cho vay, lẽ ra phải chuyển cho anh Q là người được vay, nhưng T đã cố tình gian dối, che dấu để thực hiện hành vi nhận tiền, khi chuyển cho anh Q, T đã tính mức lãi suất cao hơn mức lãi suất do pháp luật qui định để chiếm đoạt số tiền này.

[3.2]. Xét thấy, có căn cứ xác định đối với khoản tiền bà C đã chuyển cho T không phải do T vay để thực hiện hành vi cho lãi nặng đối với anh Q và T cũng không chứng minh được ngoài số tiền này, T không có nguồn tài sản nào khác để cho anh Q vay mức lãi suất cao hơn mức lãi suất do bà C đã thỏa thuận.

Từ sự gian dối này, T đã không trả tiền gốc, lãi cho bà C, T đã lấy tiền lãi từ anh Q và chiếm đoạt khoản tiền này; khi được Q yêu cầu thanh toán hợp đồng để lấy giấy CNQSD đất của bà C1; T đã nhiều lần né tránh, cố tình không thực hiện; do phải chịu nợ xấu nên buộc Q phải thanh toán các khoản tiền gốc cho bà C và các khoản lãi khác nhau mà T đã thu của anh Q theo yêu cầu bà C.

[3.3]. Qua xem xét các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, xét thấy:

Bằng việc thực hiện hành vi môi giới của T với bà Nguyễn Thị C, anh Phạm Long Q và bà Nguyễn Thị C1 để các bên thực hiện việc giao dịch vay tiền. Theo yêu cầu của bà C để đảm bảo cho khoản vay 3.000.000.000 đồng của anh Q; bà C1 đã thỏa thuận bảo lãnh cho anh Q vay tiền của bà C bằng việc ký hợp đồng mua bán tài sản là nhà, đất của mình với bà C (thực chất là để bảo lãnh bằng thế chấp tài sản). Lợi dụng sự tin tưởng giữa các bên Tạo đã có hành vi gian dối để lấy số tiền có được từ khoản vay này, mặc dù T biết không phải là của mình để nhiều lần thực hiện tội phạm.

[3.4]. Qua đối chất tại phiên tòa, xét thấy:

Quá trình điều tra, tại cấp sơ thẩm đã bỏ sót, không đưa bà Nguyễn Thị C1 vào tham gia tố tụng, không thực hiện đối chất làm rõ những mâu thuẫn giữa bà C1 với bà C, anh Q và bị cáo T nhằm làm rõ nguồn gốc số tiền vay, ai là người được bà C thỏa thuận cho vay, cũng như việc thỏa thuận về mức lãi suất giữa các bên... dẫn đến việc cấp sơ thẩm đã bỏ sót người có quyền lợi liên quan - bà Nguyễn Thị C1; để làm rõ quan hệ giao dịch dân sự phát sinh trong vụ án. Dẫn đến khi quyết định áp dụng pháp luật để giải quyết trách nhiệm dân sự và biện pháp tư pháp thiếu khách quan, triệt để làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

Những thiếu sót nêu trên đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng không thể bổ sung tại phiên tòa phúc thẩm, xét thấy cần chấp nhận nội dung kháng cáo của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Phạm Long Q, bà Nguyễn Thị Bích C và ý kiến người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bà C; cần phải hủy toàn bộ bản án hình sự sơ thẩm theo qui định tại điểm c khoản 1 Điều 355; các điểm b, c khoản 1, khoản 3 Điều 358 của Bộ luật tố tụng hình sự để điều tra lại theo đúng qui định pháp luật.

[4]. Do kháng cáo được chấp nhận nên anh Phạm Long Q, bà Nguyễn Thị Bích C không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355; các điểm b, c khoản 1 Điều 358 của Bộ luật tố tụng hình sự; tuyên xử :

  1. Hủy toàn bộ bản án hình sự sơ thẩm số 314/2024/HS-ST ngày 07/11/2024 của Toà án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là Toà án nhân dân quận Thuận Hoá, thành phố H). Trả hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân quận Thuận hóa, thành phố H để điều tra, xét xử lại theo thủ tục chung.
  2. Về án phí: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có kháng cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhân:

  • - TAND Cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND thành phố Huế;
  • - Phòng PV06 CA TP.Huế;
  • - Sở tư pháp thành phố Huế;
  • - TAND quận Thuận Hoá;
  • - VKSND quận Thuận Hoá;
  • - CQCSĐT CA Thành phố Huế;
  • - Bị cáo;
  • - Người có QL&NVLQ;
  • - Người bảo vệ quyền, lợi ích HP;
  • - Lưu HS, VPTHS, THCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Văn Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2025/HS-PT ngày 03/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 34/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 03/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hủy bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger