|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 34 /2025/HNGĐ-ST
Ngày 29.5.2025
(V/v Ly hôn, nuôi con)
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Hoàng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Bình.
Bà Huỳnh Thị Lệ .
- Thư ký phiên tòa: Ông Khuất Duy Toàn - Thư ký Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 484/2025/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 11 năm 2024 về “Tranh chấp Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 03 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 25/2025/QĐHPT-HNGĐ ngày 14 tháng 04 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị L, sinh năm: 1992; Địa chỉ: xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam (Có mặt).
- Bị đơn: Ông Phạm Minh V, sinh năm 1988; Địa chỉ: Tổ A, phường H, quận L, TP. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo Đơn xin ly hôn, tại Bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Trần Thị L trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Vợ chồng bà Trần Thị L và ông Phạm Minh V kết hôn năm 2016, có đăng ký kết hôn tại UBND phường H, thành phố Đà Nẵng, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng tôi sinh sống hạnh phúc đến 01/8/2017 thì xảy ra rất nhiều mâu thuẫn không giải quyết được, nguyên nhân chính bất đồng với mẹ chồng, vợ chồng lại không có con và cả hai đã ly thân từ năm 2017 đến nay bà không còn tình cảm nên đề nghị Tòa án cho bà được ly hôn với ông Phạm Minh V.
- Về quan hệ con chung: Không có.
- Về quan hệ chia tài sản chung, nợ chung: Bà xác định không có.
*Đối với bị đơn ông Phạm Minh V Tòa án đã thực hiện thủ tục cấp, tống đạt các văn bản tố tụng. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông V1 có văn bản trình bày ý kiến gửi Tòa án, không đến Tòa án để tham gia các phiên họp kiểm tra việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nên Tòa án không thu thập được lời khai của ông V Tại phiên tòa, ông V vắng mặt lần hai, không có lý do.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu phát biểu: Thẩm phán đã xác định tư cách tham gia tố tụng đúng quy định tại Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự; việc xác minh, thu thập chứng cứ, giao nhận chứng cứ đúng quy định tại các điều từ 93 đến 97 Bộ luật Tố tụng dân sự; việc thụ lý, thời hạn giải quyết và việc tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng được thực hiện đảm bảo đúng trình tự, thủ tục theo quy định tại các điều 195, 196 và 203 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các điều 70 và 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Toà án tống đạt hợp lệ theo quy định. Do đó, quyền và nghĩa vụ của bị đơn đã được thực hiện đầy đủ theo quy định tại các điều 70 và 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét căn cứ Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận cho bà L1 ly hôn với ông V; Về con chung không có; Về tài sản chung và nợ chung bà L2 nhận không có nên đề nghị HĐXX không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- Thẩm quyền giải quyết vụ án: Nơi cư trú của ông Phạm Minh V; Địa chỉ: Tổ A, phường H, quận L, TP thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn là ông Phạm Minh V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần cũng như tại phiên tòa vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân:
Bà Trần Thị L và ông Phạm Minh V tự nguyện kết hôn vào năm 2016, đăng ký kết hôn hợp pháp tại UBND phường H, thành phố Đà Nẵng. Hôn nhân giữa ông, bà đảm bảo các điều kiện cũng như thủ tục theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình nên hôn nhân hợp pháp.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bà L3 quyết xin ly hôn với ông V2 lý do bà cho rằng nguyên nhân mâu thuẫn rất là nhiều, nguyên nhân chính là mâu thuẫn với mẹ chồng đồng thời vợ chồng lại không có con chung dẫn đến vợ chồng không hạnh phúc; Vợ chồng bà đã ly thân từ năm 2017 đến nay, không ai quan tâm đến ai, bà không còn tình cảm nữa đề nghị cho bà được ly hôn với ông V3 cứ vào lời khai của bà L4 như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; biên bản xác minh ngày 18/4/2025 tại địa phương thì vợ chồng bà thường xuyên xảy ra mâu thuẫn như lời bà L5 bày; cha mẹ hai bên cũng đã khuyên nhũ nhưng vẫn không hạnh phúc; Điều này chứng minh tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà L6 ly hôn là có căn cứ. Mặt khác, ông V4 quá trình giải quyết vụ án Tòa án triệu tập nhiều lần cũng không có lời khai, thể hiện ông V1 níu kéo hạnh phúc hôn nhân, bỏ mặc cho hậu quả xảy ra. Vì vậy, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Trần Thị L đối với ông Phạm Minh V .
[2.2] Về quan hệ con chung: Bà Trần Thị L xác định không có nên HĐXX không đề cập giải quyết.
[2.3] Về quan hệ chia tài sản chung, nợ chung: Bà Trần Thị L xác định không có, nên HĐXX không đề cập giải quyết.
[3] Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Căn cứ vào điểm a khoản điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 bà L phải chịu 300.000 đồng.
[4] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát đánh giá phù hợp với nhận định Tòa án nên cần được chấp nhận lời đề nghị của Viện kiểm sát.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ vào Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
-Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị L đối với ông Phạm Minh V .
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị L được ly hôn với ông Phạm Minh V .
- Về quan hệ con chung: Không có nên HĐXX không đề cập giải quyết.
- Về quan hệ chia tài sản chung, nợ chung: Bà L2 định không có nên HĐXX không đề cập giải quyết.
- Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: 300.000 đồng (ba trăm đồng) bà Trần Thị L phải chịu, nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí bà L7 nộp theo biên lai thu số 9026 ngày 07/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Liên Chiểu, (Bà L7 nộp đủ án phí).
- Về quyền kháng cáo: Bà Trần Thị L có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ông Phạm Minh V vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Đức Hoàng |
Bản án số 34/2025/HNGĐ-ST ngày 29/05/2025 của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, Thành phố Đà Nẵng về ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 34/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, Thành phố Đà Nẵng
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu bà Ly
