|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
BẢN ÁN SỐ: 34/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 28-3-2025
V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tâm.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Thiểu;
- Bà Trần Ánh Nhạn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Hữu Tuấn - Thư ký Tòa án nhân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lâm Quốc Bảo - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 504/2024/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Ngọc T, sinh năm 2000; địa chỉ: ấp P, xã P, huyện H, tỉnh Đồng Tháp;
- Bị đơn: Anh Trần Quốc V, sinh năm 1992; địa chỉ: Ô khu phố T, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh.
Chị T xin vắng mặt; anh V vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn, chị Trần Thị Ngọc T trình bày: Chị và anh Trần Quốc V chung sống từ năm 2020, hôn nhân tự nguyện, có qua tìm hiểu trước, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh. Sau khi cưới vợ chồng sống chung bên gia đình cha mẹ ruột anh V, lúc đầu vợ chồng sống hạnh phúc, đến tháng 01-2024 thì phát sinh mâu thuẩn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống vợ chồng, anh V ham mê cờ bạc, không quam tâm chăm sóc gia đình vợ con, vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau, đến tháng 8-2024 chị thuê nhà sống riêng từ đó vợ chồng sống ly thân đến nay. Trong thời gian vợ chồng sống ly thân, do chị làm công nhân tại khu công nghiệp P nên chị có gửi con cho mẹ chồng là bà Phạm Kim C chăm sóc, nhưng giữa chị và anh V không có gặp nhau để bàn bạc hàn gắn tình cảm vợ chồng, nên tình không còn. Nay chị yêu cầu ly hôn với anh V.
Về con chung: Có 01 con chung Trần Ngọc An N, sinh ngày 21-7-2020, hiện đang sống chung với chị. Chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Ngoài ra, chị không có yêu cầu gì khác và có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa.
Bị đơn, anh Trần Quốc V: Tòa án triệu tập hợp lệ để thu thập chứng cứ, kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng anh V không đến và không có ý kiến bằng văn bản gửi cho Tòa án.
Tại biên bản lấy lời khai của người làm chứng bà Phạm Kim C là mẹ ruột anh V trình bày. Hiện anh V đang sống chung với gia đình bà, qua các lần Tòa án tống đạt văn bản tố tụng và giấy triệu tập cho anh V để giải quyết vụ án, bà có nhận và giao lại cho anh V, nhưng anh V không đến Tòa án. Hiện nay giữa vợ chồng anh V có xảy ra mâu thuẩn, vợ anh V là chị T đang làm công nhân tại Khu công nghiệp P, huyện G, tỉnh Tây Ninh và gửi cháu Trần Ngọc An N cho bà giữ. Anh V và chị T chung sống không có tài sản chung và cũng không có nợ ai.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa; việc chấp hành của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án đến khi vào nghị án thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị Ngọc T đối với anh Trần Quốc V.
Về con chung: Giao cháu Trần Ngọc An N, sinh ngày 21-7-2020 cho chị T tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Ghi nhận chị T không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con.
Anh V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Về tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra giải quyết.
Án phí tính theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Tại phiên tòa nguyên đơn chị T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt và bị đơn anh V đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Nên vụ án vẫn được tiến hành xét xử theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về hôn nhân: Nguyên nhân phát sinh mâu thuẩn giữa chị T và anh V, do bất đồng quan điểm trong cuộc sống vợ chồng, anh V ham mê cờ bạc, không quam tâm chăm sóc gia đình vợ con, vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau, đến tháng 8-2024 chị T thuê nhà sống riêng từ đó vợ chồng sống ly thân đến nay. Trong thời gian vợ chồng sống ly thân, do chị T làm công nhân tại Khu công nghiệp P nên chị T có gửi con cho mẹ chồng là bà Phạm Kim C chăm sóc, nhưng giữa chị T và anh V có không gặp nhau để bàn bạc hàn gắn tình cảm vợ chồng, chứng tỏ anh V không có thiện chí để vợ chồng được đoàn tụ, mà bỏ mặc chị T. Hơn nữa anh V được Tòa án triệu tập hợp lệ để thu thập chứng cứ, hòa giải và xét xử nhưng vẫn vắng mặt, nên tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh V ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T là phù hợp theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về con chung: Giao cháu Trần Ngọc An N, sinh ngày 21-7-2020 cho chị T được quyền tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp theo quy định tại các Điều 81, 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2013.
Ghi nhận chị T không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con.
Anh V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Do chị T và anh V vắng mặt, nên không đặt ra giải quyết.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh là có căn cứ.
[3] Về án phí: Chị T phải chịu án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố Tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 56, 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị Ngọc T đối với anh Trần Quốc V.
Chị Trần Thị Ngọc T được ly hôn với anh Trần Quốc V.
Về con chung: Giao cháu Trần Ngọc An N, sinh ngày 21-7-2020 cho chị T được quyền tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Ghi nhận chị T không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con.
Anh V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Về tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra giải quyết.
- Án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình: Chị T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng). Ghi nhận chị T đã nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) từ tiền tạm ứng án phí sơ thẩm theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0014616 ngày 23-10-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh, được khấu trừ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Báo cho các bên đương sự biết, có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã (phường) và nơi cư trú.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA NGUYỄN VĂN TÂM |
Bản án số 34/2025/HNGĐ-ST ngày 28/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 34/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn và nuôi con
