TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM TỈNH NINH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 34/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 26/6/2025
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM,
TỈNH NINH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Vân
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Huỳnh Sinh và ông Trần Hoàng Liên
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Loan - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Y - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 238/2025/TLST- HNGĐ ngày 29 tháng 4 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12/6/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Võ Thị Tú O, sinh năm: 1982 (có mặt).
Bị đơn: Ông Phạm Bá P, sinh năm: 1971 (vắng mặt và có đơn giải quyết vắng mặt).
Cùng nơi cư trú: Số A đường N, phường P, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, nguyên đơn bà Võ Thị Tú O trình bày:
Bà và ông Phạm Bá P chung sống với nhau có cưới hỏi và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T năm 2005. Sau khi cưới, vợ chồng sống chung tại số A N, phường P, thành phố P - T đến nay.
Quá trình chung sống vợ chồng không hạnh phúc do tính tình không hợp. Vợ chồng mạnh ai nấy sống, không quan tâm chăm sóc gì đến nhau.
Nay bà đã không còn tình cảm nữa nên yêu cầu Tòa án cho ly hôn ông P.
Về con chung: Bà và ông P có 03 con chung tên Phạm Viết L, sinh ngày 24/7/2005; Phạm Võ Yến V, sinh ngày 30/12/2007; Phạm Quốc H, sinh ngày 17/4/2012. Ly hôn bà xin nuôi 3 con và không yêu cầu ông P cấp dưỡng.
Hiện nay bà đang làm nghề buôn bán, thu nhập mỗi tháng 200.000.000 đồng.
Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại đơn xin giải quyết vắng mặt ngày 10/6/2025, ông Phạm Bá P trình bày:
Ông và bà Võ Thị Tú O là vợ chồng có tổ chức cưới hỏi và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T năm 2005.
Quá trình chung sống vợ chồng không hạnh phúc nên quyết định thuận tình ly hôn.
Về con chung: Ông đồng ý giao 03 con chung tên Phạm Viết L, sinh ngày 24/7/2005; Phạm Võ Yến V, sinh ngày 30/12/2007; Phạm Quốc H, sinh ngày 17/4/2012 cho bà O nuôi dưỡng và ông không cấp dưỡng nuôi con.
Do công việc kinh doanh nên ông P đề nghị được vắng mặt tại các phiên họp, hoà giải và xét xử.
Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát:
Từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đều tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn có đơn giải quyết vắng mặt. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự giải quyết vắng mặt bị đơn.
Về quan điểm giải quyết nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1.1] Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn bà Võ Thị Tú O khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, nuôi con với bị đơn ông Phạm Bá P. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn hiện đang cư trú tại phường P, thành phố P - T nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T theo khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Xử lý về việc vắng mặt của bị đơn: Từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm mở phiên tòa sơ thẩm Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T đã thông báo, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông Phạm Bá P đều vắng mặt và có đơn xin giải quyết vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, cùng với tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án để làm cơ sở giải quyết và xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung tranh chấp:
[2.1] Bà Võ Thị Tú O và ông Phạm Bá P kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 20 ngày 03/3/2005, đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 8 và 9 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn bà Võ Thị Tú O vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
[2.2] Về quan hệ hôn nhân: Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình quy định:
“1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.
2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác”.
Theo lời bà Võ Thị Tú O trình bày: bà và ông Phạm Bá P quá trình chung sống có mâu thuẫn do tính tình không hợp. Vợ chồng mạnh ai nấy sống, không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau.
Ông P vắng mặt trong toàn bộ quá trình Toà án giải quyết nhưng có đơn xin giải quyết vắng mặt và có trình bày là “quá trình chung sống vợ chồng không hạnh phúc nên quyết định thuận tình ly hôn”.
Vì vậy, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xét thấy hôn nhân giữa bà O và ông P đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà O.
[2.3] Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung tên Phạm Viết L, sinh ngày 24/7/2005; Phạm Võ Yến V, sinh ngày 30/12/2007; Phạm Quốc H, sinh ngày 17/4/2012. Cháu L đã trưởng thành; Bà O có yêu cầu trực tiếp nuôi 02 con chung dưới 18 tuổi, Hội đồng xét xử thấy rằng: Các con chung từ trước đến nay đều sống với bà O. Bà O có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, có khả năng để nuôi con; các cháu có nguyện vọng được sống với bà O và ông P cũng đồng ý giao 02 con chung cho bà O nuôi con, ông P không cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử giao 02 con chung dưới 18 tuổi là cháu Phạm Võ Yến V, Phạm Quốc H cho bà Võ Thị Tú O trực tiếp nuôi dưỡng, ông Phạm Bá P không có nghĩa vụ phải cấp dưỡng nuôi con do bà O không có yêu cầu.
[3] Tài sản chung và nợ chung: Bà O không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thành phố P - T là có căn cứ và đúng pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về án phí: Bà O phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
Khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự;
Khoản 1 Điều 56; khoản 2 Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Võ Thị Tú O được ly hôn với ông Phạm Bá P.
2. Về con chung: Giao cho bà Võ Thị Tú O được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung dưới 18 tuổi tên Phạm Võ Yến V, sinh ngày 30/12/2007; Phạm Quốc H, sinh ngày 17/4/2012. Ông Phạm Bá P không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con do bà Võ Thị Tú O không yêu cầu.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trong nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
3. Về án phí: Bà Võ Thị Tú O phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) đã nộp theo biên lai thu tiền số: 0001226 ngày 25/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận. Bà Võ Thị Tú O đã nộp đủ án phí.
4. Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ Bản án./.
Nơi nhận: - TAND tỉnh Ninh Thuận; - VKSND tỉnh Ninh Thuận; - VKSND TP. PR-TC; - Chi cục THADS TP. PR-TC; - UBND xã Phước Diêm (nay là UBND xã Cà Ná, tỉnh Khánh Hoà); - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thùy Vân |
Bản án số 34/2025/HNGĐ-ST ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 34/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Võ Thị Tú O ly hôn Phạm Bá P
