Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ T

TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 26 - 05 - 2025

V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, TỈNH THANH HOÁ

  • - Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
    • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Tân
    • Các Hội thẩm nhân dân.
      • Bà Nguyễn Thị Thưởng
      • Bà Mai Thị Tiếp
  • - Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Tuấn Thành - Thư ký Toà án nhân thành phố T, tỉnh Thanh Hoá.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân thành phố T, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên toà: Bà Trịnh Thị Thu Lan - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 05 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân thành phố T, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 134/2024/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 12 năm 2024 về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 04 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 83/2025/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 05 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Nguyễn Thị Hoàng T, sinh năm 1997;

Địa chỉ: Phố A, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Trọng T1, sinh năm 1990

Địa chỉ: Lô N, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa .

Tại phiên toà có mặt chị T, vắng mặt anh T1. Anh T2 vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 23/11/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Hoàng T trình bày: Chị và anh Nguyễn Trọng T1 kết hôn tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 16/10/2020 tại Uỷ ban nhân dân (sau đây viết tắt là UBND) phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Sau ngày cưới, cuộc sống vợ chồng hoà thuận đến năm 2024 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn.

Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra cãi vã. Vợ chồng chị đã sống ly thân từ năm 2024 cho đến nay, không ai quan tâm tới ai. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên chị yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh T1.

Về con cái: Chị và anh T có hai con chung là cháu Nguyễn Trọng Nhật M, sinh ngày 18/09/2018 và cháu Nguyễn Trọng Nhật K, sinh ngày 08/10/2020. Ly hôn, chị yêu cầu Toà án giao cả cháu M cho chị, giao cháu K anh T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, chị và anh T1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản, công nợ chung: Chị T không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 08/01/2025 anh T1 trình bày: Về ngày kết hôn, nơi đăng ký kết hôn đúng như nguyên đơn trình bày. Trong cuộc sống hôn nhân, vợ chồng hoà thuận, hạnh phúc, thỉnh thoảng cũng có những va chạm nhỏ nhặt thường ngày. Nhưng mâu thuẫn vợ chồng không đến mức trầm trọng, anh vẫn còn yêu thương đối với chị T. Anh đề nghị Toà án hoà giải để vợ chồng được đoàn tụ.

Về con cái: Vợ chồng có hai con chung là cháu Nguyễn Trọng Nhật M, sinh ngày 18/09/2018 và cháu Nguyễn Trọng Nhật K, sinh ngày 08/10/2020. Do anh không đồng ý ly hôn nên anh không có ý kiến về việc giao nuôi con.

Về tài sản, công nợ chung: Anh T2 không yêu cầu Toà án giải quyết.

Ý kiến của Viện kiểm sát:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử (sau đây viết tắt là HĐXX), Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (sau đây viết tắt là BLTTDS); chị T đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật, anh T2 không thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 51; 56; 57; 58; 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014: Xử cho chị Nguyễn Thị Hoàng T được ly hôn anh Nguyễn Trọng T1. Giao cháu Nguyễn Trọng Nhật M cho chị T, giao Nguyễn Trọng Nhật K cho anh T1 trực tiếp nuôi dưỡng, anh T1, chị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về án phí: Đề nghị áp dụng Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội: Chị T phải nộp án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định của pháp luật, anh T1 không phải nộp án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

[1] Về tố tụng:

Tòa án đã thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho các bên đương sự nhưng anh Nguyễn Trọng T1 không có mặt nên Tòa án đã thông báo kết quả kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho anh T1 theo quy định tại khoản 3 điều 210 BLTTDS.

Anh T2 đã được triệu tập hợp lệ đến phiên hoà giải hai lần nhưng anh T2 đều không đến để tham gia hoà giải nên Toà án không tiến hành hoà giải được. Đây là trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 1 điều 207 BLTTDS.

Toà án cũng đã triệu tập hợp lệ anh T2 lần thứ hai đến Tòa án để tham gia phiên toà nhưng anh T2 vẫn không có mặt mà không có lý do nên căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 điều 227, khoản 3 điều 228 BLTTDS Toà án xét xử vắng mặt chị T.

[2] Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hoàng T và anh Nguyễn Trọng T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 16/10/2020 tại Uỷ ban nhân dân (sau đây viết tắt là UBND) phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa và không vi phạm các điều cấm của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, là hôn nhân hợp pháp. Trong cuộc sống hôn nhân, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2024 cho đến nay, không ai quan tâm tới ai, vấn đề này cũng đã được UBND phường Đ xác nhận. Tòa án cũng đã nhiều lần triệu tập anh T1 lên làm việc nhưng anh T1 đều không có mặt, thể hiện anh T1 không thiết tha hàn gắn tình cảm vợ chồng. Điều đó chứng tỏ chị T, anh T1 đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Nghĩ nên căn cứ điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 xử cho chị T được ly hôn anh T1.

[3] Về con cái: Chị T và anh T1 có 02 con chung. Xét thấy, hiện tại cháu M đang ở với chị T, cháu K1 đang ở với anh T1. Để không bị xáo trộn cuộc sống và đảm bảo sự phát triển ổn định về mọi mặt cho các cháu, nghĩ nên giao cháu M cho chị T, giao cháu K cho anh T1 được trực tiếp nuôi dưỡng, chị T, anh T1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

[4] Về tài sản: Chị T, anh T1 không yêu cầu nên miễn xét.

[5] Về án phí: Chị T phải nộp án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định của pháp luật, anh T1 không phải nộp án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 51; 56; 57; 58; 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 227; 228; 271; 273 BLTTDS; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:

  1. Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Hoàng T và anh Nguyễn Trọng T1 được ly hôn.
  2. Về con cái: Công nhận chị T và anh T1 có 02 con chung là Nguyễn Trọng Nhật M, sinh ngày 18/09/2018 và cháu Nguyễn Trọng Nhật K, sinh ngày 08/10/2020. Giao cháu M cho chị T, giao cháu K cho anh T1 được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, chị T và anh T1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Chị T, anh T1 có quyền qua lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.

  1. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Hoàng T phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền chị đã nộp tạm ứng tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hoá, theo biên lai số AA/2024/0002102 ngày 27/12/2024. Chị T đã nộp đủ tiền án phí.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt chị T, vắng mặt anh T1. Chị T có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh T1 có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • VKSND, TAND tỉnh Thanh Hoá.
  • - VKSND Tp Thanh Hoá;
  • - Các đương sự;
  • - UBND phường Đông Hương;
  • - Chi cục THADS Tp Thanh Hoá;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thanh Tân

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Hội thẩm nhân dân Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
Nguyễn Thị Thưởng Mai Thị Tiếp Nguyễn Thanh Tân
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2025/HNGĐ-ST ngày 26/05/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, TỈNH THANH HOÁ về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 34/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger