|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN, TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 34/2025/HNGĐ-ST Ngày: 25/6/2025 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Trang;
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Lệ Thanh và bà Vũ Thị Nữ;
Thư ký phiên tòa: Ông Phan Thái Hậu, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Kim Trâm – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 84/2025/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 4 năm 2025, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Ngô Thị Mỹ N, sinh năm: 1989
Địa chỉ thường trú: Thôn H, xã T, huyện H1, tỉnh B.
- Bị đơn: Ông Hồ Kim T, sinh năm: 1992
Địa chỉ thường trú: Thôn H, xã T, huyện H1, tỉnh B.
(Các đương sự vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Ngô Thị Mỹ N trình bày: Bà và ông T đăng ký kết hôn năm 2014 tại Ủy ban nhân dân xã Tân Thắng. Trong quá trình chung sống, cả hai hạnh phúc thời gian đầu, sau đó ông T nghiện ngập, không lo cho gia đình. Từ tháng 06/2024 đến nay cả hai không sống chung với nhau. Hiện nay, bà nhận thấy cả hai không còn khả năng hàn gắn tình cảm, do đó bà yêu cầu được ly hôn với ông T.
Về con chung: Bà và ông T có 03 con chung là Hồ Đức L, sinh ngày 23/01/2015, Hồ Thiên A, sinh ngày 23/11/2017 và Hồ Thiên A1, sinh ngày, sinh ngày 30/10/2022. Bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng các con chung, không yêu cầu ông T phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Các bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Hồ Kim T đã được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng nhưng vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt ngày 06/6/2025, ông trình bày ý kiến: Ông đồng ý ly hôn với bà N, thống nhất giao các con chung Hồ Đức L, sinh ngày 23/01/2015, Hồ Thiên A, sinh ngày 23/11/2017 và Hồ Thiên A1, sinh ngày 30/10/2022 cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng, ông không cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung nợ chung, ông không tranh chấp. Đồng thời đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt ông.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân:
- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử sơ thẩm: Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự. Thẩm quyền thụ lý vụ án, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ, thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, cấp tống đạt văn bản tố tụng cho người tham gia tố tụng là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật; Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và Thư ký thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự về phiên tòa sơ thẩm; Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng theo quy định; Bị đơn chưa thực hiện đúng quy định.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nhung, bà Ngô Thị Mỹ N được ly hôn với ông Hồ Kim T; Giao các con chung cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng, tài sản chung, nợ chung không xem xét giải quyết. Đương sự phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của các bên đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Bà Ngô Thị Mỹ N khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Hồ Kim T; Yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, nên quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[2] Bị đơn ông Hồ Kim T có nơi cư trú tại Thôn H, xã T, huyện H1, tỉnh B, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
[3] Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa và đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương theo quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[4] Bà N và ông T đăng ký kết hôn năm 2014 tại UBND xã Tân Thắng, huyện Hàm Tân trên cơ sở tự nguyện. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ.
[5] Bà N trình bày trong quá trình chung sống, cả hai bất đồng quan điểm sống, ông T nghiện ma túy, không lo làm ăn, từ tháng 06/2024 đến nay cả hai đã không sống chung với nhau. Về phía ông T đã nhiều lần được tống đạt thông báo hòa giải của Tòa án nhưng không có mặt, điều này thể hiện rõ việc ông T không có ý muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng, đồng thời tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt ông cũng thống nhất ly hôn với bà N. Những căn cứ nêu trên thể hiện mâu thuẫn vợ chồng giữa bà N và ông T thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy cần phải chấp nhận cho bà N được ly hôn với ông T.
[6] Về con chung: Bà N và ông T có 03 con chung là Hồ Đức L, sinh ngày 23/01/2015, Hồ Thiên A, sinh ngày 23/11/2017 và Hồ Thiên A1, sinh ngày 30/10/2022. Bà N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng các con chung. Ông T cũng có ý kiến thống nhất giao các con cho bà N nuôi dưỡng. Xét thấy, hiện nay, các con chung đang sống cùng với bà N, cháu L và cháu A có nguyện vọng muốn sống cùng mẹ, cháu A1 dưới 36 tháng tuổi. Do đó, cần giao cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng con chung để tránh làm xáo trộn cuộc sống và tâm sinh lý của các cháu, đồng thời cũng đảm bảo sự ổn định về nơi sinh sống, học tập của các con chung. Việc giao con chung cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình và đảm bảo được sự phát triển mọi mặt của con chưa thành niên.
[7] Về cấp dưỡng nuôi con: Bà N đã được giải thích về quyền yêu cầu cấp dưỡng để đảm bảo chi phí nuôi dưỡng con chung và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, tuy nhiên, bà xác định mình có đủ điều kiện để nuôi con nên không yêu cầu ông T phải cấp dưỡng nuôi con, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không tranh chấp nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
[9] Về án phí, nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng:
- - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- - Điều 19, 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình;
- - Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị Mỹ N đối với ông Hồ Kim T về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Ngô Thị Mỹ N được ly hôn với ông Hồ Kim T.
2. Về con chung: Giao cho bà Ngô Thị Mỹ N trực tiếp nuôi dưỡng các con chung Hồ Đức L, sinh ngày 23/01/2015, Hồ Thiên A, sinh ngày 23/11/2017 và Hồ Thiên A1, sinh ngày 30/10/2022.
Ông Hồ Kim T có quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung không ai được cản trở.
Vì quyền lợi của con chung, các đương sự đều có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn theo quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
3. Tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không tranh chấp, nên không xem xét giải quyết.
4. Án phí: Bà Ngô Thị Mỹ N phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0002263 ngày 18/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Tân. Bà N đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
5. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được hoặc niêm yết công khai bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thùy Trang |
Bản án số 34/2025/HNGĐ-ST ngày 25/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN, TỈNH BÌNH THUẬN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 34/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà N yêu cầu ly hôn với ông T
